Trợ giúp - Tìm kiếm - Thành viên - Lịch
Full Version: Theo dõi diễn biến kinh tế toàn cầu
Diễn đàn Vàng, Forex và chứng khoán > Câu lạc bộ chứng khoán & Forex - Stock and Forex Club (SAFC) > World Economy
Adwin
Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng mạnh
Thứ Hai, 2/6/2008, 21:55 (GMT+7)
Phóng to


Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc tăng mạnh

Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã tăng đến mức lớn nhất thế giới -Ảnh: AFP
(TBKTSG Online)- Tính đến cuối tháng 4, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã lên đến 1,76 nghìn tỉ đô la Mỹ, lớn nhất thế giới.

Theo China Business News, dự trữ ngoại hối của nền kinh tế đang tăng trưởng bậc nhất thế giới đã tăng thêm 74,5 tỉ đô la Mỹ trong tháng 4, nghĩa là mỗi giờ tăng thêm khoảng 100 triệu đô la.

Với con số 1,76 nghìn tỉ đô la Mỹ, dự trữ ngoại hối của Trung Quốc đã lớn hơn của Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc và Hongkong cộng lại.

Dự trữ ngoại hối nhảy vọt đến mức kỷ lục càng làm gia tăng những lo ngại về sự xuất hiện của các dòng tiền đầu cơ, được gọi là "tiền nóng". Vì nếu tính ra, mức tăng này gần gấp ba lần thặng dư thương mại và vốn đầu tư trực tiếp, vốn là hai nguồn truyền thống đóng góp vào dự trữ ngoại hối.

Các nhà phân tích cho rằng có khoảng 50 tỉ đô la Mỹ đã xâm nhập vào nền kinh tế dưới dạng “tiền nóng”, do đồng nhân dân tệ mạnh lên và khoảng cách ngày càng rộng giữa lãi suất ở Mỹ (đang giảm), và Trung Quốc (đang tăng).

N.T (Theo AFP)
Adwin
Ngành hàng không có thể lỗ 2,3 tỉ đô la


Những chiếc máy bay nằm xếp hàng dài tại sân bay Heathrow ở London, Anh -Ảnh: AFP

Hiệp hội Hàng không quốc tế (IATA) vừa dự báo, năm nay các hãng hàng không có thể lỗ đến 2,3 tỉ đô la Mỹ, đối nghịch hoàn toàn với mức dự báo lợi nhuận trước đó.

Vào tháng 4, cơ quan đại diện ngành hàng không dự báo lợi nhuận năm nay có thể đạt đến 4,5 tỉ đô la Mỹ. Theo IATA, với các công ty thành viên nắm giữ đến 94% ngành hàng không toàn cầu, giá nhiên liệu tăng vọt chính là thủ phạm gây nên sự đảo chiều không mong đợi.

“Ngành hàng không đang rơi vào khủng hoảng, có lẽ là cơn khủng hoảng lớn nhất mà chúng ta gặp phải”, Tổng thư ký của IATA, Giovanni Bisignani, phát biểu khi mở đầu phiên họp thường kỳ của tổ chức này.

Ông cảnh báo rằng con số thiệt hại của ngành trong năm nay thậm chí sẽ leo thang đến 6,1 tỉ đô la Mỹ nếu giá dầu vẫn xoay quanh 135 đô la Mỹ/thùng. Con số 2,3 tỉ đô la mới được tính dựa trên giá dầu 106,5 đô la/thùng cho cả năm.

“Trong 6 tháng qua, có đến 24 hãng hàng không phải ngừng hoạt động”, ông Bisignani cho biết.

Còn cầm cự được là những hãng trang bị được một đội máy bay mới tiêu tốn ít nhiên liệu hơn và những hãng có chi phí vận hành thấp.

Năm ngoái, ngành hàng không thế giới đạt lợi nhuận 5,6 tỉ đô la Mỹ.

NGỌC THU (Theo AFP)
Adwin
Gian nan đối phó giá dầu tăng
n Quốc Trung
Giá dầu mỏ liên tiếp tăng cao, đạt gần 140 USD/thùng vào cuối tuần qua đã đe dọa kinh tế toàn cầu, trong bối cảnh lạm phát leo thang. Tìm giải pháp đối phó giá dầu cao đang là vấn đề nóng của nhiều nền kinh tế.


Các nhà phân tích thị trường dự đoán, giá dầu thô thế giới có thể lên tới 150 USD/thùng vào tháng 7/2008 và 200 USD/thùng trong vòng hơn một năm nữa, do nhu cầu tăng cao và một phần do tình trạng đầu cơ trục lợi.

Các nhà phân tích thị trường dự đoán, giá dầu thô thế giới có thể lên tới 150 USD/thùng vào tháng 7/2008 và 200 USD/thùng trong vòng hơn một năm nữa, do nhu cầu tăng cao và một phần do tình trạng đầu cơ trục lợi.

Giá dầu vây hãm các nền kinh tế

Cơn sốt dầu mỏ không ngừng tăng nhiệt với xu hướng ngày càng “rút ngắn thời gian giữ kỷ lục” đang khiến các nhà lãnh đạo thế giới lo lắng. Nhiều ý kiến cho rằng nếu giá dầu tiếp tục tăng với tốc độ như hiện nay thì nền kinh tế thế giới khó tránh khỏi cuộc khủng hoảng nghiêm trọng.

Giá dầu tăng, giá lương thực và lạm phát cao, đang đẩy các nền kinh tế vào thế bí. Bởi giá dầu tăng sẽ đẩy giá một loạt mặt hàng thiết yếu tăng theo. Tại châu Á, các nước và vùng lãnh thổ như Philippines, Đài Loan, Indonesia đã phải quyết định tăng giá nhiên liệu, gây khó khăn cho đời sống người dân có thu nhập thấp. Ngay sau quyết định tăng giá xăng, các cuộc biểu tình đã nổ ra ở Indonesia và một số nước khác. Chính phủ Thái Lan đã phải chấp nhận bù lỗ khi ra quyết định giảm giá bán dầu diezen, sau khi nghiệp đoàn xe buýt đình công trong 24 giờ vì không được phép tăng giá vé.

Chính phủ Ấn Độ cho biết, sẽ công bố giá nhiên liệu mới cao hơn đôi chút trong vài ngày tới. Chính phủ Trung Quốc tuyên bố cố giữ mức giá cũ cho đến ngày khai mạc Olympic Bắc Kinh 2008. Tuy nhiên, do nhu cầu sử dụng nhiên liệu cao, tình trạng cung-cầu không tương xứng, nên gần đây, nhiều tỉnh thành lớn ở miền Đông Trung Quốc khan hiếm xăng dầu trầm trọng.

Tại Hàn Quốc, ngày 8/6, Chính phủ đã công bố một kế hoạch trị giá gần 10,5 nghìn tỷ Won (10,3 tỷ USD), góp phần giảm bớt gánh nặng do giá dầu tăng cao cho những đối tượng thu nhập thấp và doanh nghiệp tư nhân. Kế hoạch này bao gồm giảm thuế thu nhập cho công nhân và doanh nghiệp tư nhân trong 1 năm. Ước tính, khoảng 12,8 triệu người được hưởng ưu đãi này. Tuy nhiên, những biện pháp này chỉ có hiệu lực tới tháng 6/2009.

Chính phủ Hàn Quốc cũng đang xem xét giảm các loại thuế đánh vào xăng, dầu diezen và khí đốt hóa lỏng. Đồng thời, xem xét việc tiếp tục cắt giảm thuế suất, nếu giá dầu tăng lên mức 170 USD/thùng.

Kinh tế toàn cầu có thể chệch hướng

Một loạt các cuộc họp bàn về vấn đề năng lượng đã được tổ chức cuối tuần qua tại châu Âu và Nhật Bản, song chưa có giải pháp quyết định cho vấn đề giá dầu tăng phi mã.

Ngày 8/6, đại diện các nước G8, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc (các nước chiếm gần 2/3 tổng năng lượng tiêu thụ của thế giới) đã nhóm họp tại Aomori (Nhật Bản), thảo luận về sáng kiến hợp tác quốc tế trong việc tiết kiệm năng lượng và phát triển năng lượng sạch, xây dựng kế hoạch tiết kiệm năng lượng ở từng nước. Bộ trưởng Năng lượng Mỹ và 4 cường quốc châu Á là Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc bày tỏ lo ngại rằng chi phí năng lượng tăng cao có thể làm chệch hướng đi của kinh tế toàn cầu.

Ông Samuel Bodman, Bộ trưởng Năng lượng Mỹ cho rằng giá dầu cao kỷ lục là “một cơn sốc”, đồng thời khuyến cáo các nước sản xuất dầu rằng nếu kinh tế Mỹ bị chao đảo, thì các nước này cũng không tránh khỏi bị ảnh hưởng vì họ phụ thuộc vào Mỹ-động lực quan trọng thúc đẩy kinh tế thế giới.

Bộ trưởng Năng lượng Nhật Bản Akira Amari nhấn mạnh: “Việc đảm bảo an ninh năng lượng, trong đó có việc giữ ổn định thị trường dầu mỏ trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu đối với bất kỳ nước nào”. Theo ông, nếu các nước không hành động ngay thì nền kinh tế thế giới sẽ có nguy cơ rơi vào một cuộc suy thoái toàn cầu. Cần phải giải quyết song song cả hai vấn đề: an ninh năng lượng và biến đổi khí hậu vì đây là hai mặt của một vấn đề.

Trước cuộc họp ở Nhật Bản 2 ngày, tại cuộc họp ngày 6/6, các bộ trưởng năng lượng Liên minh châu Âu (EU) cũng đã đạt được thỏa thuận về kế hoạch cải tổ nhằm tăng cường sự cạnh tranh trong ngành năng lượng của khối này. Theo đó, các nước EU được quyền quyết định hoặc buộc các tập đoàn lớn cung ứng khí đốt và điện tách khỏi các hệ thống phân phối của họ, hoặc cho phép các tập đoàn này duy trì hoạt động phân phối dưới sự giám sát nghiêm ngặt của một cơ quan điều phối.
Guest
Các nước châu Á phải giúp lẫn nhau. 16-06-2008 00:39:20 GMT +7

Các đại biểu tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á tại Kuala Lumpur, Malaysia hôm 15-6. Ảnh: REUTERS
Các lãnh đạo doanh nghiệp và quan chức các nước tham gia Diễn đàn Kinh tế Thế giới về Đông Á diễn ra tại Malaysia trong hai ngày 15 và 16-6 đã thúc giục các nước châu Á đi đầu trong việc tìm kiếm giải pháp cho các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu hiện nay, như giá nhiên liệu và lương thực leo thang.

Phát biểu tại diễn đàn, ông Yashwant Sinha, nghị sĩ và là cựu bộ trưởng tài chính Ấn Độ, nhận định: “Tôi tin là những thể chế quốc tế mà chúng ta có hiện nay tỏ ra không có khả năng đương đầu với những thách thức toàn cầu... Các nước châu Á phải đi đầu trong việc giải quyết các cuộc khủng hoảng kinh tế”. Một ví dụ mà ông Sinha đưa ra là Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã không làm gì để đối phó với cuộc khủng hoảng trên thị trường chứng khoán thế giới bắt nguồn từ sự suy sụp của lĩnh vực cho vay thế chấp thứ cấp ở Mỹ thời gian qua.

Trong khi đó, ông Yoshimi Wataname, Bộ trưởng Các dịch vụ tài chính và cải cách hành chính Nhật Bản, cũng cho rằng các nước châu Á phải giúp đỡ lẫn nhau trong việc đối phó với các cuộc khủng hoảng vì nước Mỹ không còn được kỳ vọng là “đầu tàu của nền kinh tế toàn cầu”. Ông nói: “Các nước châu Á đang trên cùng một chiếc thuyền. Chúng ta chia sẻ cùng một số phận”.

Bên lề diễn đàn, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nhận định rằng sức ép giá cả vẫn đang là mối bận tâm lớn nhất ở châu Á, trong lúc lạm phát đang đe dọa phá hỏng những thành quả chống đói nghèo đạt được trong 20 năm qua ở châu lục này. Ông Rajat M. Nag, Giám đốc điều hành ADB, nói: “Chúng tôi lo ngại rằng tình trạng giá lương thực và nhiên liệu tăng sẽ làm tổn hại đến cuộc chiến chống nghèo”. Theo ông Nag, khoảng 1 tỉ người ở châu Á đang bị tác động mạnh bởi tình trạng giá lương thực tăng, bao gồm 600 triệu người có thu nhập chưa đến 1 USD/ngày.

Ông Nag cũng lặp lại rằng lạm phát vẫn là thách thức lớn nhất của khu vực. Theo ông Nag, lạm phát ở châu Á năm 2008 có thể vượt qua mức dự báo 5,1% - con số cao nhất trong 10 năm qua - được ADB đưa ra trước đó. Vì thế, ông Nag cho rằng các nước châu Á không chỉ quan tâm đến vấn đề giá lương thực, nhiên liệu mà còn phải chú ý đến tình trạng lạm phát nói chung.

HOÀNG PHƯƠNG (Theo AP, Reuters)
NLĐ
Phong Nha
Giá USD quốc tế giảm mạnh xuống mức thấp nhất tuần qua. 09:35' 19/06/2008 (GMT+7) Đồng USD sáng 19/6 giảm giá do nhiều người đang lo ngại về lãi suất cũng như lo ngại kinh tế Mỹ giảm tốc, khi mà giá dầu đang ở mức cao.

Biểu đồ thể hiện biến động USD-euro trong 1 năm qua. Ảnh: Kitco


Vào lúc 9h00 sáng 19/6 trên thị trường Châu Á, đồng USD được giao dịch phổ biến ở mức 1,5559 USD/Euro, giảm so với mức 1,5535 USD/Euro trước đó. Đây là mức thấp nhất tuần qua của USD so với euro.

Cùng thời gian, USD được giao dịch ở mức 107,71 Yen/USD, giảm so với mức 107,88 Yen/USD trước đó.

Nguyên nhân khiến USD giảm giá là do giới đầu cơ quay lưng với USD sau khi có tin cho rằng báo cáo chiều tối ngày 18/6 của Chính phủ Mỹ sẽ cho thấy năng lực sản xuất của Mỹ đang giảm.

Và khi đó, để kích thích sản xuất, nhiều khả năng Cục dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ hoãn quá trình tăng lãi suất.

Lãi suất không tăng sẽ làm giảm tính hấp dẫn của USD so với các đồng tiền mạnh khác, qua đó làm USD giảm giá.

Đồng USD ngày 19/6 giảm giá do nhiều người đang lo ngại kinh tế Mỹ giảm tốc, khi mà giá dầu đang ở mức cao.

Ngoài ra, nguyên nhân khiến USD giảm giá là do giới đầu cơ quay lưng với USD vẫn là do lo ngại kinh tế Mỹ giảm tốc.

Lo ngại kinh tế Mỹ giảm tốc ngày càng tăng trong giới đầu tư, khi mà giá dầu đang ở mức cao sau khi tăng từ cuối tuần trước.

Các chuyên gia lại dự báo dầu sẽ tăng lên 150 - 200 USD/thùng, càng thôi thúc giới đầu tư đầu cơ tăng mua dầu, khiến giá dầu tiếp tục tăng cao.

Loại nguyên liệu đầu vào tối quan trọng này của kinh tế Mỹ tăng như vậy báo hiệu sự suy giảm của nền kinh tế lớn nhất thế giới này trong thời gian tới, qua đó là giảm giá trị đồng tiền của nước này, đồng USD.


  • Nhật Vy VNN
fiona

Châu Á đối phó với lạm phát

Thủ tướng Thái Lan đi khảo sát giá gạo bán ở chợ để tìm cách hỗ trợ dân nghèo

(TBKTSG) - Khắp châu Á mối đe dọa lạm phát đang quay lại và không chỉ các nhà hoạch định chính sách mới cảm nhận được. Đối mặt với giá nhiên liệu và lương thực leo thang, các chính phủ vừa phấn đấu duy trì mức tăng trưởng kinh tế vừa hạn chế sự lan rộng những xáo trộn xã hội. Ở Thái Lan, Việt Nam, Hàn Quốc và Indonesia, lạm phát đã lên cao trong nhiều năm khiến các ngân hàng trung ương phải miễn cưỡng tăng lãi suất. Trong lúc đó, chính phủ nhiều nước bắt đầu bãi bỏ việc trợ giá xăng dầu để tránh làm thâm thủng nhiều hơn nữa nguồn ngân sách hạn hẹp song rất thận trọng không để việc tăng giá xăng dầu dẫn tới những rắc rối chính trị.

Khi giá dầu thế giới dao động ở mức cao, áp lực lạm phát gần như chỉ tăng mà không giảm. Nan giải là ở chỗ, làm sao nâng lãi suất tín dụng mà không làm chậm đà tăng trưởng kinh tế. David Cohen, Giám đốc Cơ quan Dự báo kinh tế châu Á tại Singapore, thổ lộ: “Chúng ta đang đối mặt với áp lực lạm phát không chỉ ở châu Á mà trên toàn thế giới. Tác động của giá lương thực và giá nhiên liệu cao đang đẩy tốc độ lạm phát lên nhanh”.

Trong bài diễn văn ngày 9-6 vừa qua, Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) Ben Bernanke cũng bày tỏ mối quan ngại về áp lực lạm phát do giá dầu - một phát biểu mà giới quan sát coi như dấu hiệu cho thấy FED có thể sắp tăng lãi suất trong tương lai gần. Trong mấy tháng qua, FED đã liên tục giảm lãi suất cơ bản của Mỹ nhằm đối phó với tình trạng đình đốn của nền kinh tế - một động thái mà các nhà xuất khẩu ở châu Á theo dõi rất sát.

Tình hình biến động ở mức khó dự báo được. Sáu tháng trước đây, châu Á đã vật lộn để duy trì tăng trưởng kinh tế trong hoàn cảnh xuất khẩu sang Mỹ bị chậm lại. Vào thời điểm đó, họ hình dung rằng nhu cầu tiêu thụ yếu đi của thị trường Mỹ sẽ ngăn cản đà tăng giá hàng hóa toàn cầu, từ đó làm giảm hóa đơn nhập khẩu của các nước châu Á. Nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy mà cán cân thương mại ở châu Á càng lúc càng nghiêng về phía nhập siêu do giá dầu và giá lương thực tăng nhanh.

Nhiều kinh tế gia cho rằng, khi kinh tế châu Á chậm lại thì giá nhiên liệu và nguyên liệu toàn cầu sẽ giảm vì châu lục này phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu nhập khẩu. Tuy vậy, giá lương thực cao vẫn còn là một thách thức.

Rải rác đã xảy ra những cuộc bãi công, biểu tình và rối loạn tại nhiều nước và nhiều chính phủ phải ban hành các chương trình trợ cấp xã hội để xoa dịu nỗi bất bình của người dân. Thay vì bù lỗ cho các công ty kinh doanh xăng dầu và lương thực để tránh tăng giá, nhiều nước tìm biện pháp giúp đỡ dân nghèo hữu hiệu hơn.

Ở Thái Lan chẳng hạn, hôm thứ Hai Bộ trưởng Tài chính Surapong Suebwonglee cho biết, bắt đầu từ tháng 7, chính phủ sẽ phát tem phiếu lương thực cho các gia đình thu nhập thấp vì lạm phát đã lên tới mức cao nhất trong thập niên này, ở mức 7,6% hồi tháng 5 vừa qua. Ở Malaysia, Thủ tướng Abdullah Badawi cam kết cắt bỏ bổng lộc của các bộ trưởng trong chính phủ và giảm đến mức tối thiểu các chuyến công cán nước ngoài của họ.

Những đám mây u ám trên nền kinh tế các nước châu Á khiến nhiều người liên tưởng tới cuộc khủng hoảng tài chính xảy ra hơn một thập niên về trước. Tuy vậy, giới chuyên gia cho rằng có những sự khác biệt khiến cho cuộc khủng hoảng tài chính châu Á 1997-1998 khó có thể xảy ra lần nữa.

Mười năm trước các nền kinh tế Đông Nam Á bị thâm thủng ngân sách trầm trọng, đồng tiền bị buộc chặt vào đô la Mỹ và niềm tin sụp đổ. Nay, nhiều chính phủ châu Á có thặng dư trong tài khoản vãng lai, có dự trữ ngoại tệ khổng lồ trong khi các đồng tiền bản xứ đã mạnh lên so với đồng đô la Mỹ đang suy yếu. Đó là lý do tại sao ở Thái Lan người ta lo ngại làn sóng đầu tư nước ngoài đổ vào có thể làm tăng giá trị đồng bản tệ, tác hại tới xuất khẩu.

Nhìn chung, mục tiêu hàng đầu mà các nhà hoạch định chính sách ở châu Á hướng tới là kiềm chế lạm phát, ổn định nền kinh tế và từ đó ổn định xã hội. Cho dù ở một vài nơi, điều đó có nghĩa là hy sinh tốc độ tăng trưởng thần kỳ mà họ gặt hái được trong mấy năm qua.

đấy, lạm phát lây lan khắp nơi mà. chừng nào quan chức VN mình quan tâm dần nghèo như họ nhỉ?


TiToe
Lạm phát của Nhật Bản tăng lên mức cao trong vòng 1 thập kỷ qua.

Chỉ số giá tiêu dùng của Nhật Bản trong tháng 5 đã tăng lên mức cao nhất trong vòng 1 thập kỷ qua, khiến cho ngân sách các hộ gia đình bị ảnh hưởng nghiêm trọng và gây khó khăn cho ngân hàng Trung ương nước này khi thực hiện các chính sách tiền tệ, trong khi đó kinh tế lại đang tăng trưởng chậm lại.

Hôm nay, tại Tokyo, cơ quan thống kê của Nhật Bản đã cho biết, chỉ số giá cả đối với các mặt hàng cơ bản trong đó không tính tới rau quả và cá đã tăng 1,5% từ đầu năm; trong khi đó, chỉ số này trong tháng 4 là 0,9%.



Đồng yên giao dịch ở mức 106,94/ USD vào lúc 8g45 sáng nay tại Tokyo, giảm từ mức 106,88 trước khi bản báo cáo được công bố.



Chi tiêu hộ gia đình đã giảm tháng thứ 3, do giá xăng dầu, bánh mì và sữa tăng khiến người dân phải hạn chế tiêu dùng. Tăng trưởng kinh tế chậm lại có thể khiến cho Ngân hàng Trung ương Nhật Bản dừng việc tăng lãi suất ngay cả khi lạm phát trên thế giới đang tăng cao. Lãi suất cơ bản hiện nay của Nhật là 0,5%.



Giá năng lượng và vật liệu thô tăng cao đã khiến cho chỉ số niềm tin của các công ty sản xuất lớn giảm xuống mức thấp nhất trong 5 năm qua.



Seiji Nakamura, thành viên ban điều hành chính sách Ngân hàng Trung ương Nhật Bản nói Ngân hàng đang lo ngại việc tăng giá năng lượng và các nguyên liệu thô có thể khiến cho các các công ty và người tiêu dùng phải giảm bớt việc chi tiêu. Ngân hàng cũng đang theo dõi xem những áp lực lạm phát trên Thế giới đã có ảnh hưởng như thế nào tới Nhật Bản.



Theo cơ quan Thống kê Nhật Bản cho hay, chi tiêu hộ gia đình đã giảm 3,2%, mức giảm nhiều nhất kể từ tháng 9/2006. Tỷ lệ thất nghiệp đã ở mức 4%.







Mỹ Hương



(Theo Bloomberg)

Anh Đào
ECB tăng lãi suất Euro, giá vàng giảm mạnh

Người dân nên thận trọng khi đầu tư vàng. (Dân trí) - Sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tăng lãi suất cơ bản đồng Euro lên 4,25%, USD đã hồi phục mạnh mẽ khiến giá vàng giảm mạnh. Trong nước, một lần nữa giá vàng lại mất mốc 1,9 triệu đồng/chỉ.

Kết thúc phiên giao dịch hôm qua, giá vàng kỳ hạn giao tháng 8 tại New York giảm gần 13 USD/ounce (mức giảm tương đương 1,4%), tạm chốt ở mức 933,6 USD/ounce. Đây cũng là mức giá chốt của vàng giao ngay hôm qua, khi giảm tới 11,7 USD/ounce.

USD hồi phục trở lại so với Euro sau khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tăng lãi suất cơ bản đồng Euro từ 4% lên 4,25%. Quyết định này của ECB được đánh giá là phù hợp để giải quyết tình trạng lạm phát tại khu vực đồng tiền chung này.

Ở trong nước, giá vàng miếng SJC cũng mất mốc 1,9 triệu đồng/chỉ, xuống còn 1,883 triệu đồng/chỉ (mua vào) - 1,895 triệu đồng/chỉ (bán ra).

Trên sàn giao dịch vàng ACB, giá vàng loại này thậm chí còn được khớp ở mức 1,888 triệu đồng/chỉ; tính đến hơn 10h sáng toàn sàn có hơn 144.000 lượng vàng chuyển nhượng thành công, tương ứng giá trị 2.716 tỷ đồng.





TiToe
Nhật giữ nguyên lãi suất cơ bản Thứ Ba, 15/7/2008, 18:21

Ông Masaaki Shirakawa, Thống đốc Ngân hàng trung ương Nhật, trả lời báo giới trong cuộc họp báo ngày 15-7 - Ảnh: Reuters(TBKTSG Online)- Ngân hàng trung ương Nhật vừa công bố giữ nguyên lãi suất đồng thời giảm mức dự báo tăng trưởng trước những lo ngại về chi phí gia tăng và suy thoái kinh tế. Ngân hàng Nhật đã bỏ phiếu thông qua việc giữ nguyên lãi suất cơ bản là 0,5%, vốn không đổi từ tháng 2-2007. Ngân hàng cũng hạ mức dự báo tăng trưởng cho năm tài khóa đến tháng 3-2009 từ 1,5% xuống còn 1,2%.

Giá xăng dầu, thực phẩm và nguyên vật liệu tăng cao đang tác động mạnh đến nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Từ đây cũng phát sinh những lo ngại rằng sự phụ thuộc mạnh của Nhật vào hàng xuất khẩu khiến nền kinh tế này dễ bị tổn thương do suy thoái ở Mỹ.

“Xét đến các yếu tố rủi ro thì thị trường tài chính toàn cầu vẫn còn bất ổn và có nhiều nguy cơ đối với Mỹ và kinh tế thế giới", ngân hàng Nhật nhận định, nhấn mạnh rằng áp lực lạm phát toàn cầu tiếp tục gia tăng.

Dự đoán tăng trưởng năm tài khóa 2009-2010 cũng bị hạ từ 1,7% xuống còn 1,5%.

NGỌC THU (Theo BBC)
A37
Tin như vậy tôi chẳng hiểu phải dịch nghĩa nó làm sao nữa:

WTO: đàm phán nông sản thất bại
Cuộc đàm phán của WTO về các điều khoản cho vòng đàm phán Doha đã thất bại sau 9 ngày làm việc tại Geneva, Thuỵ Sĩ. Vấn đề quan trọng nhất là các nước đã không tìm được tiếng nói chung về nông nghiệp. Mỹ lên án Ấn Độ, Trung Quốc vẫn bảo hộ nông nghiệp với việc áp thuế suất cao với nông sản nhập khẩu. Ngoài ra, bất đồng giữa Ấn Độ và Mỹ về thuế suất thực phẩm đã góp phần cho cuộc đàm phán tại Geneva này nhanh chóng thất bại. Chỉ có nông dân Hàn Quốc và Nhật là hài lòng vì vẫn tiếp tục được bảo hộ trước làn sóng nông sản giá rẻ muốn nhảy vào thị trường hai nước này. Dự kiến nhiều nước sẽ theo đuổi các thỏa thuận song phương hoặc khu vực, vốn dễ dàng nhất trí hơn.

Bác nào hiểu biết rộng diễn giải giùm với xem nó ảnh hưởng tới đâu. Cám ơn trước.
Thang
Mình ko hiểu biết rộng lắm nhưng theo thiển ý thì đại để nó như vầy:

1. Từ việc Doha thất bại suy ra chính sách tam nông là 1 chính sách chung cho toàn cầu - do đó về lâu dài thì nông nghiệp, nông thôn và nông dân vẫn tiếp tục được các quốc gia bảo trợ.

2. Mỗi nước có 1 cách bảo trợ khác nhau và nước nào tìm hướng đi đúng cho chính sách bảo trợ thì nước đó sẽ thành công.

3. Hướng đi đúng là phải gắn với thị trường và tuân thủ cơ chế thị trường có sự ủng hộ từ đằng sau của nhà nước. Việc nhà nước hỗ trợ như thế nào thì mục đích cuối cùng vẫn phải là giúp người nông dân trưởng thành hơn, chủ động hơn khi tham gia vào cơ chế thị trường.

4. Hướng đi sai là sẽ tạo cho nông dân tính ỷ lại và phụ thuộc.

Nói linh tinh quá, chẳng biết phải nói ntn nữa
CuongFX
OIL'S FUTURE PRICE IS REALLY DEPENDENT ON WHO YOU ASK

By John Aidan Byrne, Post Wires

August 25, 2008 --

Drivers looking for insight into how much they'll be paying at the pump this winter shouldn't look to Wall Street for any guidance - oil analysts on the Street don't seem to have a clue.

Take the gaping difference between the estimates of oil analysts at two firms - Goldman Sachs and Hong Kong-based GaveKal Research.

Goldman is predicting oil, which settled at $114.63 a barrel on Friday, will not continue its easing pattern but do an about-face and rise 30 percent by Dec. 31 to $149 on growing demand in emerging markets. GaveKal, looking at the same data, predicts oil will fall 19 percent to between $85 a barrel and $100 a barrel as production remains high.

Oil has fallen 22 percent from its July peak as US demand has slowed and production has not slowed. But no two analysts on the Street seem to be able to agree on what lies down the road.

For example:

* On China' demand for oil: Goldman, in a recent report, writes that China shows no sign of curbing consumption, noting that oil demand has increased 9.5 percent in the year to July. GaveKal reports that with Olympic preparations behind them, China has stopped importing diesel.

* On oil production: Goldman sees disruptions in supply, including Caspian production, which is down 550,000 barrels a day, because of a damaged rail link in Georgia. Meanwhile, GaveKal reports Saudi Arabia is producing at its highest rate in 26 years.

* On the affect of the US dollar on oil prices: The impact of the US dollar on oil is limited, reports Goldman. Oh yeah? "Weakening US dollar prompted 'profit-taking' in greenbacks and crude," GaveKal said in a recent report.

A falling dollar encourages selling from investors who bought crude oil and other commodities as a hedge against inflation and weakness in the US currency.

The sudden and rapid run-up in price on Aug. 21 and sudden about-face on Aug. 22 had many traders shaking their heads.

"This is extreme volatility," said Jim Ritterbusch, president of energy consultancy, Ritterbusch and Associates in Galena, Ill. "The fact that we erased all of Thursday's gains so fast suggests that we're still in a bear market. There's just not much demand out there."

At the pump, a gallon of regular fell another penny overnight to a new national average of $3.692, according to auto club AAA, the Oil Price Information Service and Wright Express. Prices had peaked at $4.114 a gallon on July 17, but have come down as high-energy costs force Americans to cut back on their driving.
A37
Gia tăng nhu cầu tiêu thụ dùng tăng .
Theo dự báo mới đây của Hãng thông tấn Reuters, trong thời gian từ nay tới năm 2012, nhu cầu tiêu thụ xi măng trên thế giới sẽ tăng 4,7%/năm, đạt 3,5 tỷ tấn vào năm 2012.

(Ảnh minh họa)

Riêng trong năm nay, theo dự báo của trang web thông tin xây dựng của Mỹ (www.construction.com), nhu cầu về xi măng trên thế giới sẽ tăng khoảng 4,8%. Giới kinh doanh cho rằng, tiêu thụ xi măng trên thế giới tăng là do nhu cầu đối với mặt hàng này tăng mạnh tại các nước đang phát triển. Ngoài ra, sự hồi phục trên thị trường xây dựng tại các nước công nghiệp hoá như Mỹ, Nhật và Đức cũng góp phần làm tăng nhu cầu về xi măng trên thế giới.

Tuy vậy, mức tăng này vẫn chậm đáng kể so với thời kỳ từ năm 2002 đến 2007, thời điểm mà nhu cầu tiêu thụ xi măng tăng 2 con số tại nhiều thị trường lớn, trong đó Trung Quốc- nước chiếm gần một nửa lượng xi măng tiêu thụ trên toàn cầu trong năm 2007.

Hiện Trung Quốc và Ấn Độ đã vượt Mỹ, trở thành những nước sản xuất và tiêu thụ xi măng lớn nhất thế giới. Chiếm trên 30% sản lượng xi măng toàn thế giới, Trung Quốc hiện được xem là thị trường có ảnh hưởng rất lớn tới sự biến động về giá xi măng trên thị trường quốc tế. Mặc dù là đất nước có tiềm lực khổng lồ, nhưng Trung Quốc hiện không chủ trương đầu tư mạnh vào những dự án sản xuất xi măng quy mô lớn. Cách đây không lâu, Trung Quốc có kế hoạch tái cơ cấu ngành xi măng thông qua việc giảm số lượng nhà máy sản xuất xuống còn 3.500, với sản lượng hàng năm chỉ khoảng 400 triệu tấn.

Do mức tiêu thụ xi măng ở Trung Quốc có xu hướng chậm lại, trong khi nhu cầu tiêu thụ tại Ấn Độ, thị trường tiêu thụ xi măng lớn thứ hai thế giới ngày càng tăng, nên đây sẽ là thị trường có tốc độ tiêu thụ xi măng tăng mạnh nhất trong số các thị trường lớn.

Với các thị trường nhỏ hơn, nhu cầu tiêu dùng xi măng ở Indonesia, Malaysia, Nigeria, Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất... dự kiến tăng khoảng 7%/năm trong thời gian từ nay tới năm 2010. Tại Mỹ, do hoạt động xây dựng nhà ở hồi phục, chi tiêu của chính phủ tăng, nên mức tiêu thụ xi măng cũng tăng trưởng khả quan.

Riêng tại phương Tây, hoạt động xây dựng hồi phục sẽ có lợi cho các thị trường xi măng tại Đức, Bồ Đào Nha... Tương tự, sự gia tăng trong hoạt động đầu tư xây dựng tại Nhật Bản sau thời kỳ dài sụt giảm, sẽ tác động tích cực tới thị trường xi măng thế giới.

Giới phân tích cho rằng, nhu cầu tiêu thụ xi măng pooclăng (hiện chiếm hơn 3/4 tổng số lượng bán xi măng toàn thế giới) sẽ được hỗ trợ bởi đầu tư cho xây dựng ở nhiều khu vực trên thế giới gia tăng và sự tiến bộ về công nghệ. Tuy nhiên, tiêu thụ xi măng hỗn hợp sẽ tăng với tốc độ nhanh hơn trong thời gian từ nay tới 2012.

Bê tông trộn sẵn được dự báo sẽ là thị trường tăng trưởng mạnh trong thời gian từ nay tới 2012. Các công ty bê tông trộn sẵn hiện chiếm tỉ lệ tương đối nhỏ, song lại chiếm thị phần đáng kể tại nhiều nước, đặc biệt là Trung Quốc và Ấn Độ. Dự báo trong tương lai, bê tông trộn sẵn sẽ được sử dụng ngày càng nhiều, nhất là tại thị trường các nước đang phát triển.
(Theo báo chí nước ngoài)
fiona
Thế giới thờ ơ trước khẩn cầu của Mỹ

Mỹ kêu gọi Ngân hàng Trung ương và chính phủ các nước lớn hỗ trợ họ trong kế hoạch hỗ trợ hệ thống tài chính. Tuy nhiên, lần này G7 dường như bỏ rơi Mỹ.
Châu Âu và Nhật Bản thể hiện thái độ hết sức thờ ơ đối với kế hoạch hỗ trợ ngành ngân hàng của Mỹ.

Thủ tướng Đức tranh thủ cơ hội này để chỉ trích Mỹ và Anh về việc phản đối Đức áp dụng chính sách kiểm soát chặt chẽ hơn đối với thị trường tài chính.

Các quan chức Đức công khai gạt bỏ khả năng có bất cứ giải pháp nào tương tự với kế hoạch trị giá 700 tỷ USD của Mỹ.

Điều này cho thấy sự rạn nứt trong quan hệ giữa Mỹ và nhiều nước khác tại châu Âu và châu Á, nơi hệ thống ngân hàng hiện nay ở trong tình trạng khá hơn nhiều so với Mỹ.

Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Mỹ Henry Paulson chủ nhật vừa rồi (ngày 22/09) cho biết ông muốn kêu gọi sự hợp tác từ những nước khác trong việc mua lại tài sản liên quan đến thị trường thế chấp của Mỹ.

Quan chức của Anh cũng cho biết rõ rằng họ sẽ không lập ra một quỹ để mua lại tài sản xấu mặc dù Bộ trưởng Bộ Tài Chính Anh cho biết sẽ đưa ra một số luật mới.

Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy, Chủ tịch luân phiên của Liên minh châu Âu, khi đến New York ngày thứ Hai 22/9, đã nhiều lần chỉ trích cơ chế quản lý kinh tế toàn cầu.

Ông Christian de Boissieu, chủ tịch Hội đồng phân tích kinh tế Pháp, cho rằng:”Nước Mỹ phải chịu trách nhiệm cho chính những thiệt hại mà họ đã gây ra. Tôi ủng hộ quan hệ hợp tác liên Đại Tây Dương, tuy nhiên không có nghĩa tôi ủng hộ chi tiền giải cứu.”

Bộ Trưởng Bộ Tài Chính Nhật Bản, ông Bunmei Ibuki, phát biểu cho rằng ông không thấy có bất kỳ lý do nào Nhật Bản lại phải can thiệp vào kế hoạch giải cứu theo kiểu Mỹ để giải quyết những khoản nợ xấu.

Bộ trưởng Bộ Tài Chính Đức, ông Peer Steinbrück, cho rằng sẽ không có thành viên nào trong nhóm các nước công nghiệp phát triển G7 tiến hành áp dụng chương trình tương tự như Mỹ.

Vân Kiều - cafef
Theo Nytimes
Phong Nha
Ngân hàng Đức có nguy cơ phá sản
Ngân hàng thuộc hàng lớn nhất nước Đức đang bên bờ vực phá sản sau khi một tập đoàn ngân hàng rút lui khỏi cuộc họp giải cứu.
Quĩ tín dụng bất động sản thương mại lớn thứ hai nước Đức, Hypo Real Estate, nói thỏa thuận cứu giúp bị tan vỡ.

Các phóng viên nói thất bại này sẽ gây thêm căng thẳng cho các cơ quan tài chính ở các nước khác.

Tin tức được loan ra sau phiên thượng đỉnh của các lãnh đạo EU ở Paris không đưa ra cam kết nào về kế hoạch cứu trợ kiểu Hoa Kỳ cho các ngân hàng.

Hypo Real Estate hiện sở hữu nhiều khoản cho vay khó đòi, bị ảnh hưởng từ cơn sóng bể tín dụng trên thị trường quốc tế.

Ngân hàng nói có một tập đoàn các cơ sở tài chính Đức, liên quan tới kế hoạch cứu trợ do chính phủ lãnh đạo, rút lui khỏi quá trình đàm phán sau khi từ chối cấp gần 35 tỷ euro nhằm cứu vãn tình thế.


Hypo Real Estate thuộc hàng lớn thứ nhì nước Đức
Lý do tại sao họ rút lui không được công bố rõ, nhưng một phát ngôn nhân cho Hypo Real Estate nói quĩ tín dụng nhà đất này đang vật lộn để sống sót.

Một vài chuyên gia phân tích nói ngân hàng sẽ không thể hoạt động thêm vài ngày nữa nếu thiếu tiền cứu trợ, cho nên phải có hành động trước giờ thị trường mở cửa vào thứ Hai.

Theo dự kiến vào Chủ Nhật sẽ có thêm cuộc gặp giữa các đại diện chính phủ và ngân hàng tư nhân.

Phóng viên bình luận nếu Hypo Real Estate phá sản sẽ gây thêm gánh nặng cho thị trường vốn đang chao đảo lại càng thêm nợ nần
BBC
TiToe
Anh, Tây Ban Nha bất ngờ giải cứu hệ thống ngân hàng

Thủ tướng Anh Gordon Brown (trái) và Bộ trưởng Bộ Tài chính nước này Alistair Darling - Ảnh: Bloomberg.
Trong một động thái chưa từng có, Chính phủ Anh vừa tuyên bố một chương trình giải cứu khổng lồ dành cho hệ thống ngân hàng của nước này.

Nội dung kế hoạch

Theo kế hoạch này, Chính phủ Anh sẽ mua lại lượng cổ phiếu ưu đãi trị giá tới 50 tỷ Bảng, tương đương 87 tỷ USD, của nhiều ngân hàng và tổ chức tín dụng nhà ở. Trong đó 25 tỷ Bảng sẽ được sử dụng ngay lập tức, còn 25 tỷ Bảng sẽ được giữ ở trạng thái có thể bất kỳ sử dụng vào thời điểm nào.

Số tiền đầu tư vào mỗi ngân hàng sẽ khác nhau và phụ thuộc vào một số yếu tố như cổ tức, lương lãnh đạo của các ngân hàng… Chính phủ Anh cũng yêu cầu các ngân hàng được rót vốn phải cho các doanh nghiệp nhỏ và người sở hữu nhà được vay tiền. Hiện đã có 8 ngân hàng và tổ chức tín dụng nhà ở của Anh khẳng định họ sẽ tham gia vào chương trình này là Abbey, Barclays, HBOS, HSBC, Lloyds TSB, Nationwide Building Society, RBS và Standard Chartered.

Bộ Tài chính Anh cho biết, các ngân hàng và tổ chức tín dụng nhà ở khác có thể tiếp tục nộp đơn xin tham gia vào chương trình này.

Bên cạnh đó đó, Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) sẽ tiến hành một chương trình thanh khoản đặc biệt trị giá ít nhất 200 tỷ USD nhằm cho vay ngắn hạn các ngân hàng của nước này. Đồng thời, Chính phủ cũng sẽ cung cấp một khoản đảm bảo trị giá 250 tỷ Bảng để giúp các ngân hàng quay vòng nợ.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Anh Alistair Darling tuyên bố, các bước tiến nhằm quốc hữu hóa một phần hệ thông ngân hàng này nhằm “giúp các ngân hàng trở lại với chức năng cơ bản của mình là cung cấp tiền mặt cho các gia đình và doanh nghiệp”.

Ngày hôm qua, Tây Ban Nha cũng công bố một chương trình giải cứu trị giá 50 tỷ Euro, tương đương 68 tỷ Bảng, dành cho ngành ngân hàng. Theo kế hoạch này, Chính phủ Tây Ban Nha sẽ mua vào các tài sản có chất lượng cao trong các ngân hàng nước này. Như vậy, Tây Ban Nha là nước đầu tiên ở châu Âu áp dụng biện pháp giải cứu ngành ngân hàng giống như của Mỹ.

Tới thời điểm này, hai gói giải cứu ngành ngân hàng của Anh và Tây Ban Nha là hai kế hoạch hành động lớn nhất ở cấp quốc gia để chống khủng hoảng ở châu Âu.

Lượng nợ tới hạn khổng lồ

Như vậy, cuộc khủng hoảng tín dụng leo thang đã buộc nước Anh theo bước các quốc gia khác như Mỹ, Ireland, Iceland, Bỉ và Tây Ban Nha trong việc tiến hành những biện pháp giải cứu chưa từng có nhằm cứu vãn các ngân hàng của mình thoát khỏi sự đổ vỡ. Từ khi diễn ra khủng hoảng tín dụng hiện nay, Chính phủ Anh đã quốc hữu hóa hai ngân hàng lớn ở nước này là Northern Rock và Bradford & Bingley.

Các nước châu Âu đã không thể đề ra được một kế hoạch giải cứu tập thể. Đồng thời, với sự hạn chế quyền lực của Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) theo quy định của EU, có lẽ thời gian tới, các quốc gia châu Âu sẽ phải tiếp tục tiến hành các giải pháp đơn phương để hỗ trợ ngành tài chính nước mình.

Tuần này, ngân hàng cho vay địa ốc lớn nhất ở Anh là Royal Bank of Scotland (RBS) đã mất hơn một nửa giá trị thị trường, do các nhà đầu tư mất niềm tin vào tình trạng vốn của ngân hàng.

Trong khi đó, từ nay tới tháng 3 năm sau, 6 ngân hàng lớn nhất ở Anh bao gồm HSBC, RBS, Barclays, Lloyds, Standard Chartered và HBOS phải thanh toán số nợ lên tới 54 tỷ Bảng ngay giữa lúc lãi suất cho vay tăng cao kỷ lục và các ngân hàng không muốn cho nhau vay tiền. Ước tính, nếu được trả trước đó 1 năm, khoản nợ bao gồm các loại trái phiếu, trái phiếu chuyển đổi và thương phiếu này, chỉ có giá trị bằng 1/3.

Số liệu của Bloomberg cho thấy, Ngân hàng RBS có 11,5 tỷ Bảng tiền nợ tới hạn phải trả trong vòng 6 tháng tới, còn Barclays - ngân hàng lớn thứ hai ở Anh về giá trị thị trường - có số nợ phải trả cùng kỳ là 15,9 tỷ Bảng. Ngân hàng lớn nhất nước Anh là HBSC có số nợ tới hạn là 11,5 tỷ Bảng.

Từ mấy tuần nay, các ngân hàng ở Anh đã đàm phán với Chính phủ nước này về việc bán cổ phần cho Bộ Tài chính và nâng trần bảo hiểm tiền gửi đối với các ngân hàng. Việc Ireland và Đức tăng trần bảo hiểm tiền gửi sau khi một số ngân hàng ở hai nước này suýt sụp đổ đã khiến các nhà đầu tư Anh mất niềm tin.

Hôm qua, RBS còn phủ nhận những tin đồn cho rằng ngân hàng này đang xin Chính phủ trợ giúp. Tuy nhiên, ngân hàng này đã gặp vô vàn khó khăn kể từ vụ đầu tư 14 tỷ Euro, tương đương 19 tỷ USD, vào bộ phận ngân hàng đầu tư và các chi nhánh ở châu Á của Ngân hàng ABN Amro (Hà Lan). Số vụ vỡ nợ gia tăng và sự sụt giảm nghiêm trọng của thị trường địa ốc Anh càng khiến RBS thêm điêu đứng.

Trong nửa đầu năm nay RBS thua lỗ ròng 761 triệu Bảng và thâm hụt tài sản tới 5,9 tỷ Bảng. Tuần này, hãng xếp hạng tín nhiệm đã lần đầu tiên trong vòng 10 năm đánh tụt hạng RBS.
TiToe
IMF, EU đồng ý cho Hungary vay $25.1 tỷ để cứu nền kinh tế.
29/10/2008 - 08:53 am

Thông tin từ quỹ tiền tệ IMF cho biết là Quỹ này cộng với Châu Âu và các ngân hàng thế giới đồng ý cho Hungary vay 25.1 tỷ đôla để cứu nền kinh tế nước này đang lao đao do bị cơn bảo tài chín.

Quỹ IMF cho biết là riêng Quỹ này sẽ cho Hungary vay $15.7 tỷ, trong khi đó Châu Âu thì vay ở con số $8.1 tỷ còn lại là $1.3 tỷ từ các ngân hàng thế giới khác.

Dominique Strauss-Kahn, giám đốc điều hành Quỹ tiền tệ IMF cho biết :” Các nhà chức trách của Hungary rất sáng suốt trong vay tiền để hỗ trợ chính sách tiền tệ, mà hành động này sẽ làm cho nền kinh tế nước này bình ổn trong một thời gian ngắn và với thời gian dài hạn có thể sẽ phát triển trở lại”.

Kahn cũng cho biết thêm :” Cũng trong cùng thời gian này, việc vay tiền là rất cần thiết để lôi kéo niềm tin từ các nhà đầu tư và thay thế nổi lo lắng mà họ đã trãi qua trong một vài tuần gần đây”.
CuongFX
A growing line of the jobless

Dec 5th 2008
From Economist.com
Grim employment numbers bode ill for America's economy

Corbis

AMERICA'S recession is likely to be long and deep if the latest employment numbers are anything to go by. America shed more jobs in November than in any month in the past 34 years, according to figures released on Friday December 5th by the Bureau of Labour Statistics. The fall in employment of 533,000 is far worse even the most pessimistic of forecasters had counted on. Not only are the job losses deeper than expected, workers have been shed across almost the whole of the economy. Health care and government employment were the only remaining bright spots.

Grim statistics abound. Even people in work were toiling for fewer hours than before: the average length of the working week in November was the shortest since records started in 1964. And among the unemployed, the number of people that had not only been laid off but did not expect to be recalled to work rose by 298,000. America now has 4.7m unemployed workers, a number that has ballooned by 2m in just one year. And 608,000 people did not even look for work in the past month because they believed there were no jobs for them to fill, double the number of a year ago.

All told, the number of unemployed in America has risen by 2.7m since December 2007. That is when the present recession actually began by the reckoning of the National Bureau of Economic Research, whose business-cycle dating committee is the official timekeeper of booms and busts in the American economy. During that time, the unemployment rate has risen from 5% to 6.7%. The chairman of that committee, Robert Hall, an economist at Stanford University, points out a significant difference between earlier recessions and those since 1990. In recessions pre-dating 1990 employment fell more slowly than output. But since 1990, it has fallen as quickly or even quicker than output. The reason is that employers are now more willing to cut their workforce quickly when conditions turn against them.

This is borne out by the economic data for this recession. While employment has declined steadily since December, real GDP as of the third quarter was still above its level at the end of 2007. The November jobs figures, though, point to a deeper recession than many had initially expected. The signs from the wider economy are also grim. Consumer spending will be under pressure for months to come. Home prices have fallen by 16.6% in the year to the end of the third quarter according to the Standard & Poors/Case-Shiller national index, and they still have further to go.

Banks are still deleveraging. Business investment has been badly hit: orders for capital goods sank by 4% in October. The commerical-construction industry is about to feel the effects of the collapse in the market for mortgage-backed securities. The stronger dollar is bad news for American exports, which will in any case be badly hit by the drying up of global demand as economies across the world experience their own economic slowdowns.

Many economists expect the recession to continue until mid-2009, which would make it a longer period of economic pain than that experienced either in 1973-75 or 1981-82. Moreover, employment is likely to keep falling after the recession is officially at an end. November may well have been the 11th straight month when jobs were shed in America, but it far from being the last
Anh Đào
Đông Á xuất khẩu giảm, tăng trưởng yếu

Vừa có thêm bằng chứng cho thấy khủng hoảng tài chánh toàn cầu tác động mạnh đến kinh tế của những nước sống dựa vào xuất khẩu ở Á châu.

Trong đó có hai nước công nghiệp hàng đầu tại Bắc Á là Nhật Bản và Hàn Quốc. Và cạnh đó là Trung Quốc.

Trung Quốc và Nam Hàn vừa loan báo GDP giảm mạnh,

Trung Quốc nói ba tháng cuối năm 2008 tăng trưởng của họ giảm, chỉ còn 6.8%. Một quý trước đó là 9%.

Nam Hàn nói so với một năm trước đây, kinh tế của họ tăng trưởng yếu hơn, giảm 3.4% trong quý tư năm 2008.

Trong khi đó tháng trước Nhật Bản thông báo rằng xuất khẩu giảm 35%. Đây là sự sụt giảm mạnh nhất từ trước đến nay.

'Cứu trợ khẩn cấp'

Cục Thống kê Trung Quốc vừa loan báo số thống kê mới nhất về tăng trưởng tại Trung Quốc.

Cục này nói suy giảm kinh tế trong ba tháng cuối 2008 đã kéo tăng trưởng GDP hàng năm xuống còn 9%.

Cục nói thêm đây là mức tăng thấp nhất của nền kinh tế, hiện giờ được coi là đứng thứ ba trên thế giới, kể từ 2001.

Cục trưởng Ma Jiantang, nói: "Khủng hoảng tài chánh trở nên sâu rộng hơn, tiếp tục tác động tiêu cực tới kinh tế trong nước.”

Kinh tế Nam Hàn giảm 3.4% trong quý tư 2008, đây là mức tăng thấp nhất trong một thập kỷ.

Tổng thống Nam Hàn, Lee Myung-bak, cảnh báo rằng quốc gia ông hiện đang đối diện với ‘tình trạng’ kinh tế khẩn cấp.

Còn tại Singapore, chính phủ dự đoán trong năm nay kinh tế nước này sẽ co lại, trong khoảng từ 2% đến 5%, so với GDP năm ngoái.

Theo BBC
Anh Đào
Khủng hoảng tài chính chi phối diễn đàn WEF tại Davos

TTO - Khủng hoảng tài chính sẽ là trọng tâm chính được thảo luận khi lãnh đạo các quốc gia, các chính trị gia có ảnh hưởng và lãnh đạo doanh nghiệp sẽ tề tựu tại Davos (Thụy Sĩ) từ ngày 28-1 tới ngày 1-2 để dự diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) thường niên.

Chủ tịch và là người sáng lập của WEF, Klaus Schwab, ngay trước thềm diễn đàn WEF năm nay đánh giá: “Những gì chúng ta chứng kiến là sự mở đầu của một kỷ nguyên mới và là tiếng kêu cảnh tỉnh đòi hỏi chúng ta phải thay đổi lại toàn bộ cách tư duy của mình".

Theo CNN, tâm trạng tại diễn đàn kinh tế hàng năm ở Davos thường được coi là "phong vũ biểu" chính của tình hình kinh tế trong năm.

Với việc hệ thống ngân hàng đang khủng hoảng, các nền kinh tế phương Tây đang suy thoái, thị trường tài chính đang rúng động bởi một trong những đợt thoái trào tệ hại nhất trong nhiều năm trở lại đây, các tập đoàn liên tục cắt giảm hàng ngàn nhân viên nên không có gì lạ khi chủ đề của diễn đàn năm nay có tên “Shaping the Post-Crisis World” (Định hình thế giới hậu khủng hoảng).

Một loạt các cuộc họp diễn ra trong năm ngày này sẽ thu hút khoảng 2.500 nhân vật có ảnh hưởng khác nhau (trong đó có 41 nguyên thủ) đến từ 96 quốc gia. Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo và thủ tướng Nga Vladimir Putin sẽ là những người tham gia phát biểu trong ngày đầu tiên của diễn đàn.

Thủ tướng Đức Angela Merkel, Thủ tướng Anh Gordon Brown và Thủ tướng Nhật Taro Aso cũng sẽ cùng tham dự hội nghị. Dù tân tổng thống Mỹ Barack Obama không trực tiếp tới tham dự, ông sẽ gửi Larry Summers, Giám đốc hội đồng kinh tế quốc gia, tới dự.

Khoảng 1.400 chủ tịch và CEO của các tập đoàn như trùm truyền thông Rupert Murdoch, CEO của hãng dầu lửa Shell Jeroen van der Veer, Chủ tịch Renault Carlos Ghosn, chủ tịch HSBC StephenGreen... cũng tham dự diễn đàn năm nay.

Ngoài vấn đề kinh tế, hội nghị năm nay cũng bàn thảo các hiểm họa toàn cầu khác như thay đổi khí hậu, an toàn lương thực và an toàn nước.

“Cuộc họp năm 2009 là một trong những cuộc họp quan trọng nhất trong lịch sử gần 40 năm của WEF,” ông Klaus Schwab nói. “Đó sẽ là nơi các nhân vật chính có thể bàn về cuộc khủng hoảng chưa từng có này và bàn về thế giới chúng ta muốn thấy sau khi cuộc khủng hoảng qua đi". Ông cho rằng với kỷ nguyên mới này thì cần thay đổi các định chế, các hệ thống và trên hết là cách tư duy của mỗi chúng ta.
TT
Anh Đào
Kinh tế thế giới tăng trưởng thấp nhất kể từ Thế chiến II

Đó là dự báo triển vọng tăng trưởng kinh tế trong năm nay của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) vừa công bố.

Theo IMF, triển vọng tăng trưởng kinh tế trong năm 2009 từ 1,75% theo dự báo trước đó xuống còn 0,5%, mức thấp nhất kể từ Chiến tranh thế giới thứ II.

IMF khẳng định kinh tế thế giới đang đối mặt với một đợt suy thoái nghiêm trọng. Theo thể chế tài chính gồm 185 thành viên này, các nền kinh tế phát triển dự kiến đạt mức tăng trưởng 2%.

Kinh tế Mỹ, trung tâm của cuộc khủng hoảng tài chính, sẽ giảm 1,6% chứ không phải 0,9% như dự đoán trước đó. Tuy nhiên, nền kinh tế lớn nhất thế giới này sẽ phục hồi nhanh hơn phần lớn các nền kinh tế phát triển khác.

Trong khi đó, kinh tế Nhật Bản sẽ giảm 2,6% trong năm 2009 thay vì 0,2%. Nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này sẽ chịu mức suy thoái trong năm thứ hai liên tiếp, sau mức giảm 0,3% trong năm 2008.

Kinh tế khu vực sử dụng đồng euro sẽ giảm 2% trong năm 2009 sau mức tăng 1% trong năm 2008.

Theo IMF, các nước đang phát triển sẽ đạt mức tăng trưởng 3,3% trong năm 2009, chỉ bằng một nửa so với mức 6,3% của năm 2008. Trung Quốc, nền kinh tế tăng trưởng mạnh nhất thế giới sẽ đạt mức tăng 6,7%, giảm so với 9% trong năm ngoái. Kinh tế Ấn Độ giảm từ 7,3% xuống còn 5,1%.

Ở khu vực Đông Nam Á, tăng trưởng sẽ là 2,7%, thấp hơn so với dự đoán 4,2% trước đó.

Tuy nhiên, IMF cho rằng quá trình phục hồi phụ thuộc phần lớn vào sức mạnh của các chính sách và hành động của chính phủ các nước. IMF hy vọng kinh tế thế giới sẽ phục hồi vào năm 2010 với mức tăng trưởng 3,0%.
fiona
Toyota lỗ gấp đôi dự kiến.
Khủng hoảng ở Toyota trầm trọng hơn nhiều so với dự đoán khi hãng này cho biết lỗ kinh doanh có thể lên tới 3,9 tỷ USD trong 2008, cao gấp đôi con số đưa ra trước đó.
Nguyên nhân cơ bản dẫn tới tình hình trên là doanh số số sụt giảm và đồng yen tăng giá. Năm tài chính của Toyota kết thúc vào 31/3.

Kết quả này khiến việc bỏ xa General Motors để lên vị trí hãng xe lớn nhất thế giới không còn nhiều ý nghĩa với Toyota. Đây là lần đầu tiên Toyota phải chịu lỗ ròng kể từ 1950 và vị Tổng giám đốc Katsuaki Watanabe đã phải nhường chức để Akio Toyoda, cháu trai người sáng lập Kiichiro Toyoda, lèo lái con thuyền qua cơn bão khủng hoảng.

iQ, mẫu xe nhỏ nhất của Toyota. Ảnh: AP.

Tháng 12 năm ngoái, Toyota ước đoán khoản lỗ kinh doanh vào khoảng 1,6 tỷ USD (không bao gồm các hoạt động ngoài sản xuất-kinh doanh) nhưng hy vọng vẫn đạt được một khoản nhỏ lợi nhuận ròng.

Trong quý 4, Toyota lỗ ròng 1,8 tỷ USD trong khi năm ngoái, con số lãi là 5 tỷ USD. Nguyên nhân bởi doanh số ở Mỹ giảm tới 31%, Nhật là 14% và châu Âu là 24%. Trung Quốc là thị trường lớn duy nhất mà Toyota vẫn giữ được mức tăng trưởng.

Dù khó khăn nhưng lãnh đạo tập đoàn này tuyên bố giữ vững truyền thống của mình khi không sa thải các công nhân dài hạn hay những người đang phát triển công nghệ thân thiện môi trường như hybrid.

Trọng Nghiệp (theo NYT)

he he đến TOYOTA mà còn như vầy thì cuối 2009 còn nhiều đại gia chết lắn.
Anh Đào
Tây Âu chi 31 tỷ USD cứu các ngân hàng Đông Âu
Ngày 27/2, Ngân hàng Tái thiết và Phát triển Đông Âu (EBRD), Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB), và Ngân hàng Thế giới (WB) đã nhất trí sẽ bơm số tiền 24,5 tỷ Euro, tương đương 31 tỷ USD vào các ngân hàng của khu vực Trung và Đông Âu trong thời gian 2 năm.

Quyết định giải cứu này được đưa ra trong bối cảnh các ngân hàng tại các nền kinh tế Liên Xô cũ vật lộn với lượng nợ xấu khổng lồ và tình trạng tín dụng thắt chặt, trong khi các nền kinh tế Tây Âu đã nằm gọn trong gọng kìm suy thoái.

Lãnh đạo EBRD, EIB và WB cho hay, quyết định bơm vốn cho các ngân hàng ở khu vực Trung và Đông Âu là để “triển khai sự hỗ trợ tài chính phối hợp nhanh chóng và trên quy mô lớn”, nhằm hỗ trợ hoạt động cho vay “đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ” ở khu vực này.

Ông Thomas Mirow, người đứng đầu EBRD cho hay: “Trong nhiều năm qua, sự hội nhập gia tăng trong khu vực châu Âu đã trở thành nguồn gốc của sự thịnh vượng, lợi ích chung, và chúng ta cần ngăn chặn sự đảo ngược của quy trình này”.

Kế hoạch được công bố ngay trước thềm một hội nghị thượng đỉnh khẩn cấp của Liên minh châu Âu (EU) diễn ra vào ngày 1/3 này nhằm bàn các giải pháp giúp các ngân hàng của châu lục vượt khủng hoảng.

Ngành ngân hàng châu Âu đang đối diện với những diễn biến xấu đi. Tập đoàn ngân hàng Lloyds Banking Group của Anh ngày 27/2 đã báo lỗ 14 tỷ USD trong năm 2008. Trước đó, Ngân hàng Royal Bank of Scotland đã thiết lập kỷ lục thua lỗ trong lịch sử doanh nghiệp Anh.

Ông Robert Zoelick, người đứng đầu WB, tuyên bố: “Đây là lúc châu Âu cần hợp sức để đảm bảo rằng thành tựu đã đạt được trong 20 năm qua không bị mất đi bởi cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay”.

Đối với các nước Trung và Đông Âu, tình trạng thắt chặt tín dụng ở Tây Âu càng khiến những thách thức kinh tế mà họ đang phải đối mặt thêm phần nghiêm trọng, do Tây Âu và là thị trường chính, vừa là nguồn cung cấp vốn lớn cho các quốc gia này.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của các nước Trung và Đông Âu năm 2008 chỉ còn 3,2% so với mức 5,4% năm 2007. Dự báo, năm nay, khu vực này tăng trưởng âm ít nhất 0,4%.

Đồng tiền của nhiều quốc gia ở đây vì thế đã sụt giảm mạnh tỷ giá so với Euro, khiến lượng nợ Euro mà các nước này đang mang càng thêm khổng lồ. Chẳng hạn, đồng Zloty của Ba Lan đã mất giá 48% so với đồng Euro từ mức đỉnh ở mùa hè năm ngoái.

Bất ổn xã hội tại Trung và Đông Âu vì thế cũng leo thang mạnh mẽ. Cuộc khủng hoảng buộc các chính phủ phải cắt giảm các dịch vụ công cộng, khiến sự bất mãn trong xã hội gia tăng theo.

Trong mấy tháng gần đây, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã đồng ý cho vay khẩn cấp tổng số tiền 50 tỷ USD cho các quốc gia gồm Iceland, Hungary, Latvia, Ukraine, Serbia và Belarus. Tuy nhiên, những khoản vay này không thể ngăn chặn được sự sụp đổ của các chính phủ Iceland và Latvia.

Việc các nước Tây Âu chi tiền cứu ngân hàng Trung và Đông Âu cũng được coi là để cứu chính mình, một phần vì khu vực Trung và Đông Âu là thị trường tiêu thụ hàng hóa cho Đông Âu.

Mặt khác, các ngân hàng Tây Âu đã cho các ngân hàng Trung và Đông Âu vay rất nhiều tiền. Nếu các ngân hàng “con nợ” này đổ vỡ, tác động tới các ngân hàng Tây Âu là rất lớn. Thời gian qua, nhiều tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn đã lên tiếng cảnh báo đánh tụt hạng tín nhiệm nhiều ngân hàng Tây Âu vì những bất ổn gia tăng ở Trung và Đông Âu.

Tuy nhiên, theo một số chuyên gia, nếu xét tới khoản nợ 1.700 tỷ USD mà các ngân hàng ở Trung và Đông Âu đang mang, khoản hỗ trợ 31 tỷ USD lần này chỉ như “muối bỏ bể”.

(Theo IHT)
Anh Đào

Sản lượng ở Nhật tăng
Các số liệu hồi đầu tháng cho thấy xuất khẩu *ũng tăng đôi chút

Sản lượng công nghiệp *ủa Nhật Bản tăng trong tháng Ba, lần đầu tiên sau sáu tháng, theo các con số *ủa chính phủ.

Sản lượng tăng 1,6% trong tháng Ba so với tháng Hai, sau nhiều tháng giảm trầm trọng.

Chỉ số tăng nhiều hơn dự đoán được coi như là chỉ dấu cho thấy cơn suy thoái sản xuất và xuất khẩu có thể đã đến điểm kết thúc.

Nền kinh tế lớn thứ nhì thế giới thiệt hại nặng từ cơn suy thoái toàn cầu, sa vào thời kỳ suy giảm mạnh.

Kinh tế yếu hơn

Hiện tại ngân hàng trung ương Nhật Bản hạ mức dự báo về nền kinh tế.

Họ cho rằng GDP sẽ hạ xuống khoảng 3,1% trong năm nếu tính đến tháng Ba năm 2010, so với mức dự báo 2% trước kia, nhưng cho rằng kinh tế sẽ bắt đầu phục hồi trong năm 2010.

Ngân hàng *ũng cảnh báo giá hàng tiêu dùng sẽ giảm 1,5%, đưa Nhật Bản vào tình trạng giảm phát.

Tuy nhiên, các dự báo kinh tế đó vẫn còn lạc quan hơn là *ủa IMF, vốn cho rằng kinh tế Nhật Bản sẽ giảm đến 6,2%, mạnh nhất trong nhóm các nước G7.

Nhân hàng trung ương Nhật Bản nói việc hồi phục *ũng sẽ phụ thuộc vào sự trở lại *ủa nền kinh tế thế giới với đà tăng trưởng toàn cầu, và sự ổn định *ủa thị trường tài chính.

Họ giữ mức lãi suất cơ bản ở 0,1% và hi vọng là các gói kích cầu mà chính phủ Nhật Bản công bố sẽ giúp kinh tế tăng trưởng.

Hôm thứ Hai, chính phủ đã công bố kế hoạch mới nhất trị giá 15 ngàn tỷ yen.

"Dự báo tăng trưởng *ủa ngân hàng trung ương Nhật Bản thể hiện sự mong đợi sẽ chi tiêu ngân sách ồ ạt, sẽ ảnh hưởng tích cực lên GDP, *ũng như sẽ giúp tăng trưởng", nhận định *ủa Takeo Okuhara từ công ty kinh doanh bất động sản Daiwa SB.

Sản xuất phục hồi

Hiện đang là thời gian u ám cho kinh tế Nhật Bản nhưng các con số mới nhất từ chính phủ cho thấy có cải thiện đôi chút.

Nhưng các con số mới nhất *ũng là tín hiệu rằng chính sách *ủa các công ty Nhật Bản - siết chặt dây chuyền sản xuất, giảm ngày công và thải hồi nhân công - có thể có hiệu quả.

Trong lúc các kho hàng tồn đã được giải quyết, một số nhà máy bắt đầu quay trở lại hoạt động.

Nhật Bản bị ảnh hưởng mạnh trong cơn suy thoái toàn cầu vì nhu cầu thế giới về xe hơi và hàng điện tử bị giảm.


Chỉ dấu tăng trưởng theo sau các con số hồi đầu tháng cho thấy xuất khẩu *ũng tăng nhẹ, mặc dù các chuyến tàu hàng vẫn chỉ duy trì ở mức một nửa so với năm ngoái.

Một khảo sát *ủa chính phủ với các nhà máy cho thấy sản lượng công nghiệp tiếp tục tăng, sẽ vào khoảng 4,3% vào tháng Tư và 6,1% vào tháng Năm.

fiona

Các công ty Đức lạc quan hơn
Nhu cầu hàng xuất khẩu của Đức giảm đáng kể

Các công ty tại Đức, nước có nền kinh tế lớn nhất tại châu Âu, nay đang tự tin hơn kể từ sáu tháng qua, theo một chỉ số quan trọng cho thấy.

Chỉ số Ifo tiếp tục tăng sang tới tháng thứ 2, đạt mức 84.2 vào tháng Năm so với mức 83.7 hồi tháng Tư. Tuy nhiên mức này vẫn là thấp hơn so với dự đoán.


Khảo sát gợi ý cho thấy "tình trạng ổn định dần dần ở mức thấp các sản lượng kinh tế," theo người đứng đầu nhóm khảo sát.


Các số liệu kinh tế khác cũng cho thấy một triển vọng sáng sủa hơn trong thời gian gần đây.

Tôi muốn các giữ nhân công của mình chứ không phải đào tạo lại họ khi các đơn đặt hàng trở lại với hãng.

Hans Jochen Beilke, người đứng đầu EBM Papst

Trước đó trong tháng, khảo sát Zew về tâm trạng của các nhà đầu tư đã tăng ở mức cao nhất kể từ gần ba năm qua, và chỉ số mua của các nhà quản lý tại Đức leo lên mức cao nhất trong 7 tháng qua.


Đức đã bị ảnh hưởng do tình trạng kinh tế toàn cầu trong lĩnh vực xuất khẩu, một động lực chủ chốt trong nền kinh tế nước này.


Một số phân tích gia cho biết khảo sát Ifo, vốn phản ánh quan điểm của 7.000 công ty, cho thấy có dấu hiệu giai đoạn tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng có lẽ đã qua.


"Tóm lại, kết quả của cuộc khảo sát gợi ý rằng chúng ta đã qua giai đoạn tồi tệ nhất trong cuộc khủng hoảng suy thoái này," Marco Bargel, phân tích gia tại Postbank, cho biết.


Nhưng không phải tất cả mọi người điều lạc quan như vậy.
TiToe
Bất động sản châu Á trong khủng hoảng </h1><h1 class="DetailSapo">Bất động sản Việt Nam sẽ tiếp tục là điểm đầu tư hấp dẫn trong dài hạn, nhưng sức hút có lẽ sẽ chuyển sang các đô thị cấp 2 như Hải Phòng hay Vinh...</h1> Khi kinh tế châu Á không còn là điểm tựa Cho đến đầu năm 2008, khi khủng hoảng tài chính ở Anh, Mỹ và châu Âu trở nên rõ nét thì châu Á vẫn được hi vọng sẽ là điểm tựa cứu vớt suy thoái kinh tế toàn cầu.

Tuy nhiên, đến cuối năm 2008, những hy vọng đó gần như đã hoàn toàn tan biến. Châu Á cuối cùng cũng bị cuốn vào vòng suy thoái, sản xuất công nghiệp đình đốn và tăng trưởng kinh tế âm gần như được thấy ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển trong khu vực, nhất là Nhật Bản, Hồng Kông và Singapore.

Những nước đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam cũng bị ảnh hưởng nặng nề, tăng trưởng sụt giảm và thất nghiệp gia tăng nhanh chóng.

Cho dù khó khăn kinh tế ở châu Á là điều có thể thấy trước, nhưng mức độ nghiêm trọng của sự cộng hưởng với suy thoái toàn cầu này là điều ít người dự đoán được.

Phần lớn các nước châu Á đều có thị trường tài chính tương đối ổn định, và ít nhiều không có bong bóng tín dụng nhà đất - một trong những nguyên nhân chính dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính ở các nước phát triển phương Tây.

Tuy nhiên sự phụ thuộc nặng về vào xuất khẩu đã làm khuỵu gối cả những nền kinh tế được cho là triển vọng nhất. Xuất khẩu của Trung Quốc giảm 20% trong quý I/2009, và con số này ở Singapore là gần 60%.

Tăng trưởng tiêu dùng nội địa trong những năm gần đây không đủ để bù lại sự suy giảm xuất khẩu. Mô hình kinh tế hướng xuất khẩu mà các nước châu Á theo đuổi, vốn đã mang lại thành công cho họ trong 3 thập kỷ trở lại đây, bỗng trở thành điểm yếu nghiêm trọng.

Thách thức của thị trường bất động sản

Dưới ảnh hưởng của tình hình kinh tế bất ổn, thị trường bất động sản châu Á sẽ phải đối mặt với nhiều khó khăn và giá bất động sản sẽ còn tiếp tục giảm trong vòng ít nhất là 12 tháng tới.

Những thị trường lớn như Tokyo, Seoul hay Singapore sẽ bị ảnh hưởng nặng nề nhất. Những bất động sản có giá trị lớn gần như không thể giao dịch và tình hình này sẽ duy trì cho đến khi kinh tế khởi sắc trở lại cùng với sự thông thoáng hơn trên thị trường tín dụng.

Cho dù lãi suất cho vay đã xuống thấp một cách đáng kể, nhưng việc các ngân hàng thương mại tiếp tục cẩn trọng trong việc cung cấp tín dụng đầu tư tiếp tục gây khó khăn cho doanh nghiệp. Việc mở rộng kinh doanh và phát triển thị trường gần như là không thể khi phần lớn các doanh nghiệp đang phải đặt mục tiêu tồn tại và duy trì hoạt động lên trên hết.

Trong bối cảnh đó, không ngạc nhiên khi hầu hết các thị trường văn phòng cho thuê tại các nước trong khu vực đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Nhu cầu thuê văn phòng mới gần như không có, giá cho thuê sụt giảm, cùng với việc bùng nổ xây dựng cao ốc văn phòng trong mấy năm trở lại đây ở Singapore, Hồng Kông, Thượng Hải hay Tp.HCM đã làm mất cân bằng cung cầu. Giá thuê văn phòng ở Singapore có thể giảm đến 50% trong năm 2009, và sẽ còn tiếp tục giảm sâu trong năm sau.

Tương tự như thị trường văn phòng, thị trường bán lẻ cũng không thoát khỏi suy thoái, tuy ảnh hưởng có thể nhẹ hơn. Việc xây dựng các khu mua sắm và siêu thị lớn gần như đình trệ hoàn toàn. Có thể thấy thị trường này đã không còn hấp dẫn nữa.

Những tác động với thị trường bất động sản Việt Nam

Luồng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào bất động sản tại Việt Nam đã giảm rõ rệt so với cùng kỳ năm ngoái và sẽ còn tiếp tục giảm trong thời gian tới.

Hầu hết các dự án đầu tư sẽ vẫn tiếp tục dồn vào hai thị trường chính là nhà ở và văn phòng cho thuê. Tuy nhiên cũng giống như các nước trong khu vực, những dự án này sẽ chịu nhiều rủi ro khi hoàn thành do nhu cầu của thị trường vẫn còn ở mức thấp.

Ở một mức độ nào đó, sự giảm sút của đầu tư vào bất động sản không phải là điều đáng lo ngại. Trên thực tế, do thiếu quản lý đầu tư và quy hoạch ở tầm vĩ mô, luồng vốn đầu tư lớn đổ vào thị trường khách sạn, khu du lịch, sân golf và cao ốc văn phòng trong mấy năm trở lại đây đã làm những mảng thị trường này phát triển quá nóng (đặt sang một bên những tác động về môi trường hay hiệu quả kinh tế xã hội).

Thị trường nhà ở cũng dần phân khúc một cách rõ ràng. Thị trường căn hộ cao cấp sẽ tiếp tục khó khăn trong giao dịch, trong khi thị trường nhà giá rẻ và trung bình sẽ được giao dịch sôi động hơn.

Cho dù vậy, mặt bằng giá chung của bất động sản vẫn cao so với thu nhập và sức ép này sẽ kìm hãm sự tăng giá của bất động sản trong tương lai, nhất là ở các đô thị lớn như Tp.HCM, Hà Nội hay Đà Nẵng.

Về dài hạn, bất động sản Việt Nam sẽ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn, tuy nhiên sức hút có thể được chuyển sang các đô thị cấp 2 như Hải Phòng hay Vinh, thay vì chỉ tập trung vào 2 trung tâm kinh tế lớn.

Cafef
Minhtinhable
Nhiều nước ASEAN hạ mục tiêu tăng trưởng kinh tế

(Gafin.vn) Kinh tế thế giới bất ổn cùng đợt lũ lụt chưa từng thấy trong lịch sử tại Đông Nam Á đã làm giảm tốc độ phát triển kinh tế các nước ASEAN.
Lũ lụt tại Thái Lan có thể làm GDP nước này giảm 1 - 1,7%.
Một số nước khu vực ASEAN đã buộc phải hạ mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2011 và 2012.

Bộ Tài chính Thái Lan mới đây cho biết tình trạng lũ lụt ở nước này đã gây thiệt hại trực tiếp khoảng 3,9 tỷ USD.

Mức tăng trưởng kinh tế của xứ Chùa Vàng trong năm 2011 có thể giảm từ 1-1,7% so với dự kiến trước đó. Ngân hàng Trung ương Thái Lan đã hạ dự báo tăng trưởng của nước này năm nay xuống còn 3% so với dự báo 4,1% đưa ra trước đó.

Chính phủ Philippines cũng tuyên bố sẽ hạ dự báo mức tăng kinh tế năm nay và 2012 lần lượt từ 5-6% và 5,5-6,5% xuống còn 4,5-5,5% và 5-6%.

Bộ Tài chính Campuchia cho biết sẽ hạ dự báo mức tăng trưởng kinh tế năm nay của đất nước Chùa Tháp từ 7% xuống còn 6%.

Cục Phát triển doanh nghiệp quốc tế Singapore cũng hạ dự báo mức tăng xuất khẩu năm nay của quốc đảo Sư tử từ 8-10% xuống còn 6-7%.

Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) dự báo mức tăng trưởng kinh tế năm nay của Indonesia có thể giảm từ mức 6,5% xuống còn 6,3%.

Nguồn: Gafin.vn

Tin khác:

Giá gạo thế giới lên cao nhất 1 tháng do lũ lụt tại Đông Nam Á
Minhtinhable
Bộ trưởng Pháp: Khu vực đồng euro có thể tồn tại mà không cần đến Hy Lạp

(Gafin.vn) Bộ trưởng các vấn đề châu Âu của Pháp, Jean Leonetti tuyên bố, khu vực đồng euro có thể tồn tại ngay cả khi Hy Lạp buộc phải rời khỏi nhóm này.
Bộ trưởng Pháp: Khu vực đồng euro có thể tồn tại mà không cần đến Hy Lạp
Phát biểu trên đài phát thanh, ông Leonetti nhắc lại rằng nếu Hy Lạp không chấp nhận các biện pháp thắt lưng buộc buộc để đổi lấy gói cứu trợ được nhất trí tuần trước, nước này sẽ không nhận được thêm cứu trợ, rơi vào tình trạng phá sản và đồng nghĩa với việc Hy Lạp sẽ phải từ bỏ đồng euro.

Ông cho biết Hy Lạp chỉ chiếm 2% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của khu vực và 4% của tổng số nợ, và rằng khu vực đồng tiền chung châu Âu có thể tồn tại mà không có Hy Lạp.

"Chúng ta có thể giúp họ, chúng ta có thể cứu họ, nhưng chúng ta không thể cứu những người bỏ mặc bản thân mình. Không thể chỉ vì đó là bài thuốc đắng, mà chúng ta không dùng nó, khi mà người bệnh đã rất yếu," ông Leonetti phát biểu trên đài RTL.

Hôm thứ 2, Thủ tướng Hy Lạp đã bất ngờ tuyên bố tổ chức trưng cầu dân ý về gói cứu trợ mới của châu Âu cho nước này, làm dấy lên lo ngại trên thị trường tài chính và buộc các lãnh đạo khu vực đồng euro tổ chức cuộc họp khẩn cấp tại Cannes, trước hội nghị thượng đỉnh G20.

Cuộc trưng cầu dân ý có thể được tổ chức ngày 4/12.

Tổng thống Pháp và Thủ tướng Đức đã nhấn mạnh rằng Hy Lạp sẽ không quyết định có chấp nhận các biện pháp thắt lưng buộc bụng mà là liệu nước này có muốn ở lại khu vực đồng euro hay không.

Nguồn: Gafin.vn
This is a "lo-fi" version of our main content. To view the full version with more information, formatting and images, please click here.
Invision Power Board © 2001-2012 Invision Power Services, Inc.