Trợ giúp - Tìm kiếm - Thành viên - Lịch
Full Version: Cơ bản - Gold
Diễn đàn Vàng, Forex và chứng khoán > Câu lạc bộ Forex Sài Gòn > Kiến thức và Trading
Adwin
1. Đơn vị đo lường và Cách qui đổi giá vàng thế giới và vàng trong nước

- Các đơn vị đo lường của Vàng: Trong ngành kim hoàn ở Việt Nam, khối lượng của vàng được tính theo đơn vị là cây (lượng hay lạng) hoặc là chỉ. Một cây vàng nặng 37,50 gram. Một chỉ bằng 1/10 cây vàng. Trên thị trường thế giới, vàng thường được tính theo đơn vị là ounce hay troy ounce. 1 ounce tương đương 31.103476 gram.

- Tuổi vàng (hay hàm lượng vàng) được tính theo thang độ K (karat). Một Karat tương đương 1/24 vàng nguyên chất. Vàng 9999 tương đương với 24K. Khi người ta nói tuổi vàng là 18K thì nó tương đương với hàm lượng vàng trong mẫu xấp xỉ 75%. Vàng dung trong ngành trang sức thông thường còn gọi là vàng tây có tuổi khoảng 18K.

- Thị trường vàng thế giới
+ Đơn vị yết giá (thông thường): USD/ounce
+ 1 ounce = 1 troy ounce = 0.83 lượng
+ 1lượng = 1.20556 ounce
- Thị trường vàng trong nước
+ Đơn vị yết giá: VND/lượng
+ Công thức chuyển đổi giá vàng thế giới (TG) sang giá vàng trong nước (TN):

TN = (TG + phí vận chuyển)* 1.20556 * (1+thuế NK)* tỉ giá USD/VND + phí gia công

2. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến giá vàng thế giới và giá vàng trong nước

Các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng thế giới:

- Sự biến động của giá đô la Mỹ - lãi suất tiền gởi của Mỹ.
- Sự biến động của giá dầu.
- Mức độ lạm phát của nền kinh tế Mỹ.
- Một số chỉ số của nền kinh tế Mỹ.

Các yếu tố ảnh hưởng giá vàng trong nước:

- Giá vàng trên thế giới.
- Cung cầu của các nhà đầu tư và thị trường trang sức.
- Chính sách về vàng của các ngân hàng, công ty vàng bạc đá quý lớn.


3. Vì sao đầu tư vào thị trường Vàng? Có nhiều nguyên nhân để ngày nay vàng trở thành một công cụ đầu tư hiệu quả. Trong đó, các nguyên nhân được đánh giá là quan trọng nhất bao gồm:

- Vàng là một công cụ đầu tư truyền thống của người Việt Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc, từ trước mùa xuân năm 1975, có lẽ chưa lúc nào, Việt Nam được bình yên trong một vài thế kỷ. Chiến tranh nối tiếp chiến tranh, hết ngoại xâm này lại đến ngoại xâm khác. Do đó, việc lưu dữ tiền luôn ẩn chứa những rủi ro bất trắc. Chỉ có vàng là loại tài sản được xem là có giá trị bất biến với thời gian – dù trong chế độ nào thì vàng vẫn luôn là vàng. Vàng cũng được dùng làm chuẩn đo giá trị của những tài sản lớn khác. Nếu dùng khái niệm tiền để định giá sản phẩm thì những người ở giai đoạn lịch sử khác nhau sẽ không hiểu nhau. Nếu nói ngôi nhà này trị giá bao nhiêu đồng tiền Đông Dương thì chỉ có những cụ già bảy mươi tuổi mới hiểu. Nhưng nói căn nhà giá trị 100 cây vàng thì thế hệ nào cũng hiểu được, đây là một trong những lý do để vàng trở thành phương tiện đo lường và trao đổi từ thế kỷ này sang thế kỷ khác.

- Vàng không chỉ là một loại hàng hóa đơn thuần như những loại hàng hóa khác, vàng còn là một loại tiền tệ đặc biệt dùng để trao đổi trong hơn 5,000 năm nay. Bên cạnh đó, không giống như những đồng tiền trên thị trường như Đô la Mỹ, đồng Euro, đồng Yên, đô la Úc,… những đồng tiền này thường gắn liền và được kiểm soát bởi chính phủ của đồng tiền nước đó và nền kinh tế của nước đó. Sự tăng giảm nền kinh tế sẽ ảnh hưởng đến giá trị đồng tiền đó. Trong khi đó, vàng và bạc là một loại đồng tiền đặc biệt bởi hai loại hàng hóa này mang tính chất của một công cụ trao đổi nhưng lại không chịu sự kiểm soát hay ảnh hưởng bởi nền kinh tế cụ thể nào. Chính điều này giữ giá trị của vàng lâu dài hơn so với các đồng tiền khác.

- Chính tính chất như một loại hàng hóa của vàng cũng đem lại cho vàng một sức hút hấp dẫn trong vai trò là công cụ đầu tư chống lạm phát. Kinh tế ngày càng phát triển, chỉ số lạm phát ngày càng tăng và vàng sẽ là công cụ đầu tư giữ được giá trị cao nhất.

- Trong bối cảnh tình hình chính trị bất ổn, vàng cũng là loại tài sản tích trữ duy nhất bởi giá trị của các đồng tiền có thể thay đổi theo diễn biến chính trị. Trong khi đó, vàng luôn giữ được giá trị của mình dưới bất kì hoàn cảnh nào. Đó cũng chính là lí do vì sao giá vàng luôn tăng cao khi chính trị leo thang.

- Một lí do nữa khiến nhiều nhà đầu tư ngày nay chú ý đến vàng là do việc dự trữ vàng ngày càng tăng của ngân hàng Trung ương các quốc gia trên thế giới. Tại nhiều quốc gia trên thế giới, các ngân hàng trung ương đang đưa vàng vào danh mục dự trữ của mình thay cho việc dự trữ đô la Mỹ truyền thống trước đây.

- Và mọi người ai cũng biết rằng, việc khai thác vàng ngày càng hạn chế bởi số lượng vàng trong các mỏ vàng ngày càng giảm. Chính điều này đã làm cho giá vàng biến động mạnh nhưng luôn đi theo chiều hướng tăng dài hạn.


40_002.gif
Phong Nha
Các kiến thức cơ bản: A - Giao dịch GOLD - Vàng:

GIAO DỊCH SPOT (GIAO NGAY): Spot là giao dịch trong đó sàn giao dịch và khách hàng thỏa thuận với nhau về giá và số lượng ngày hôm nay còn giao nhận tiền là 1 hoặc 2 ngày sau, thậm chí có thể thỏa thuận giao nhận cùng ngày với ngày giao dịch.

GIAO DỊCH FORWARD (KỲ HẠN): Khái niệm: Forward là giao dịch trong đó sàn giao dịch và khách hàng thỏa thuận với nhau về giá và số lượng ngày hôm nay, còn giao nhận tiền từ 3 ngày trở lên sau ngày giao dịch.

Ví dụ: Khách hàng A vào ngày 10/09/2008 kí hợp đồng Mua Kỳ Hạn 100k USD, thời hạn 1năm, đáo hạn 10/09/2009, với giá kỳ hạn là 1.880.000đ/100USD. (Lưu ý mua kỳ hạn tức là KH đang kì vọng giá lên và giá giao ngay đang giao dịch là 16.800.000đ/100USD.)

Ngay khi ký hợp đồng khách hàng phải ký quỹ x% (ví dụ 5%) giá trị hợp đồng , tương đương xxx đồng, khoản tiền này chỉ mang tinh chất “đặt cọc”, sẽ trả lại cho khách hàng nếu hợp đồng có lời, và sẽ dùng để bù đắp lỗ cho khách hàng nếu hợp đồng bị lỗ.

OPTION (QUYỀN CHỌN): Là sản phẩm mà khách hàng có quyền mua, chứ không phải nghĩa vụ để mua hoặc bán một số lượng vàng cụ thể với một tỷ giá thực hiện đã được ấn định tại thời điểm giao dịch cho một thời hạn cụ thể trong tương lai sau khi trả cho sàn giao dịch một khoản phí từ lúc ký hợp đồng.

Ví dụ: Khách hàng B vào ngày 27/12/2007 ký hợp đồng mua Call Option vàng theo giá thế giới (Lưu ý KH sẽ mua Call Option nếu kỳ vọng giá lên, sẽ mua Put Option nếu kỳ vọng giá xuống), kiểu Mỹ (Có hai loại option cho KH lựa chon, với kiểu Mỹ KH có thể thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào trong thời gian làm việc của sàn giao dịch và trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, với kiểu Âu KH chỉ được thực hiện hợp đồng vào ngày đáo hạn, còn những thời gian khác nếu muốn tất toán hợp đồng thì phải bán lại cho sàn giao dịch), khối lượng 100 Oz, giá thực hiện 824 USD/Oz, thời hạn 1 tuần, đáo hạn 03/01/2008 thì khách hàng phải trả phí Option là 10 USD/Oz, tức là 1000 USD cho toàn bộ hợp đồng, tương đương 16.040.000 đồng (phí này đóng ngay khi ký hợp đồng, và sàn giao dịch không trả lại dù khách hàng lời hay lỗ, có thực hiện hợp đồng hay không thực hiện)
Trường hợp1: vào ngày 03/01/2008 giá vàng thế giới là 850 USD/Oz, KH lời 41.704.000 = (850-824)*100*16040. KH nhận lại toàn bộ khoản lời.

Trường hợp 2: vào ngày 03/01/2008 giá vàng thế giới là 810 USD/Oz, hợp đồng khách hàng đáo hạn, KH chỉ lỗ toàn bộ khoản phí đã đóng lúc đầu, mà không phải bù đắp thêm.

Giao dịch Curency - Ngoại tệ

FORWARD: là giao dịch trong đó Ngân hàng (sàn giao dịch) và khách hàng thỏa thuận với nhau về giá và số lượng ngày hôm nay, còn giao nhận tiền từ 3 ngày trở lên sau ngày giao dịch.

Ví dụ: Công ty A nhập khẩu một lô hàng từ Châu Âu, và phải thanh toán bằng đồng EUR, nhưng ngày thanh toán là 1 tháng sau. Công ty A lo rằng nếu một tháng sau mới mua EUR để thanh toán mà giá EUR lúc đó lại tăng lên, thì sẽ bị lỗ ngoài mong muốn. Để tránh rủi ro Công ty A sẽ tới ngân hàng ký hợp đồng Mua Kỳ Hạn đồng EUR, thời hạn 1 tháng, với giá Kỳ hạn là 23.294 đồng/EUR (Giá bán giao ngay đang niêm yết lúc này là 23.278). Vào ngày đáo hạn hợp đồng, dù tỷ giá EUR/VND là bao nhiêu KH cũng được mua EUR với giá 23.924 đồng.

SWAP: Giao dịch Swap bao gồm hai giao dịch: giao ngay, kỳ hạn trái chiều được thực hiện đồng thời với các ngày hiệu lực khác nhau, giúp bảo hiểm rủi ro biến động tỷ giá và đảm bảo thanh khoản nguồn vốn kinh doanh của Doanh nghiệp thông qua việc mua giao ngay ngoại tệ này đồng thời bán kỳ hạn ngoại tệ này cho ngân hàng vào ngày hiệu lực thanh toán kỳ hạn và ngược lại.

Ví dụ: Vào ngày 27/12/2007 Công ty X đang có 100.000 EUR trong tài khoản mà không dùng tới, công ty này lại đang cần tiền đồng để thanh toán cho một số lô hàng trong nước, nhưng công ty X lại có một khoản thanh toán tới hạn bằng đồng EUR vào ngày 10/01/2007. Công ty X sẽ tới ngân hàng để ký một hợp đồng hoán đổi, với chi tiết như sau:

Vào ngày 27/12/2007, Công ty X bán giao ngay 100.000 EUR chongân hàng với tỷ giá 23.236 để có tiền đồng thanh toán
Vào ngày 27/12/2007, Công ty X mua kỳ hạn 100.000 EUR của ngân hàng với giá 23290, hiệu lực của giao dịch này là ngày 10/01/2008.
Bằng việc tham gia vào hợp đồng hoán đổi này, công ty X vừa có tiền đồng để dùng ngay đồng thời không phải lo lắng thanh khoản cho 2 tuần sau.

OPTION: Là sản phẩm mà khách hàng có quyền mua, chứ không phải nghĩa vụ để mua hoặc bán một số lượng ngoại tệ cụ thể với một tỷ giá thực hiện đã được ấn định tại thời điểm giao dịch cho một thời hạn cụ thể trong tương lai sau khi trả cho ngân hàng một khoản phí từ lúc ký hợp đồng.

Ví dụ: Khách hàng B vào ngày 27/12/2007 ký hợp đồng mua Call Option EUR/USD theo (Lưu ý KH sẽ mua Call Option nếu kỳ vọng giá lên, sẽ mua Put Option nếu kỳ vọng giá xuống), kiểu Mỹ (Có hai loại option cho KH lựa chon, với kiểu Mỹ KH có thể thực hiện hợp đồng bất cứ lúc nào trong thời gian làm việc của ngân hàng và trong thời gian hiệ lực của hợp đồng, với kiểu Âu KH chỉ được thực hiện hợp đồng vào ngày đáo hạn, còn những thời gian khác nếu muốn tất toán hợp đồng thì được phép bán lại cho ngân hàng), khối lượng 100.000 EUR, giá thực hiện 1.4510, thời hạn 1 tuần, đáo hạn 03/01/2008 thì khách hàng phải trả phí Option là 600 USD, tương đương 9.624.000 đồng (phí này đóng ngay khi ký hợp đồng, và ngân hàng không trả lại dù khách hàng lời hay lỗ, có thực hiện hợp đồng hay không thực hiện)
Trường hợp1: Vào ngày 03/01/2008 tỷ giá EURUSD là 1.4620 KH lời 17.644.000 = (1.4620-1.4510)*100.000*16040. KH nhận toàn bộ khoản lời.

Trường hợp 2: Vào ngày 03/01/2008 tỷ giá EURUSD là 1.4460, hợp đồng khách hàng đáo hạn, KH chỉ lỗ toàn bộ khoản phí đã đóng lúc đầu, mà không phải bù đắp thêm.
Rothschild
Nguồn Cầu về Vàng
Cầu đối với vàng được biết đến trên phạm vi toàn cầu. Trên sàn giao dịch ngoại hối và vàng trên toàn cầu, thì vàng luôn nằm dưới dạng tài khoản dựa trên các công cụ Option, Futures… tạo nên sự tăng “giá ảo” cho vàng trong ngắn hạn. Nhưng giá vàng luôn có quy luật nhất định trong dài hạn dựa trên nhu cầu thật về vàng. Sau đây là những nhu cầu thật của vàng mà tôi nêu lên nhằm giúp các nhà đầu tư có thể định hướng giá vàng trong tương lai dài hạn. Đồng thời, chúng ta có thể biết được liệu thị trường vàng tăng hay giảm giá trong ngắn hạn bị tác động mạnh của đầu cơ làm giá hay là nhu cầu thật sự của thị trường.

Đông Á, các vùng lãnh thổ của Ấn Độ và Trung Đông là thị trường có sức tiêu thụ khoảng 72 % nhu cầu vàng của thế giới trong năm 2007. 55 % nhu cầu thuộc về các nước Ấn độ, Italia, Thổ Nhĩ Kỳ, Mỹ và Trung Quốc. Mỗi thị trường được quy định bởi một bộ phận các yếu tố văn hoá và kinh tế xã hội khác nhau. Sự thay đổi nhanh về dân số và các biến động kinh tế xã hội khác ở các quốc gia tiêu thụ vàng chính có thể tạo ra những hình thức mới liên quan đến nhu cầu vàng. Nhu cầu về vàng có thể có các hình thức sau:

1. Nhu cầu về trang sức.

Trang sức luôn chiếm khoảng 3/4 nhu cầu về vàng. Trong 12 tháng của năm 2007, nhu cầu trang sức ước tính trị giá khoảng 54 tỷ đô la Mỹ, khiến trang sức trở thành một trong những loại hàng hoá tiêu thụ lớn nhất trên thế giới. Nếu tính theo giá trị bán lẻ, Mỹ là thị trường lớn nhất tiêu thụ trang sức làm bằng vàng, trong khi đó Ấn Độ là nước tiêu thụ lớn nhất nếu tính theo số lượng – chiếm khoảng 25% nhu cầu của thế giới trong năm 2007.

Nhu cầu vàng của Ấn Độ xuất phát từ truyền thống văn hoá và tín ngưỡng, những yếu tố này không có liên quan trực tiếp đến xu hướng kinh tế toàn cầu.

Nhìn chung, nhu cầu trang sức được quy định bởi cả hai yếu tố tài chính và sở thích của người tiêu dùng và có xu hướng tăng trong thời kỳ giá cả các mặt hàng ổn định hoặc tăng dần và ngược lại trong thời kỳ giá cả biến động. Một mức giá tăng ổn định sẽ củng cố giá trị vốn có của trang sức bằng vàng. Tiêu thụ trang sức ở thị trường đang phát triển đã và đanng được mở rộng nhanh chóng trong những năm gần đây sau một thời gian suy giảm liên tục, ngoài những thị trường đã được khai thác một số nước trong đo có cả Trung Quốc vẫn có tiềm năng đáng kể đối với nhu cầu về trang sức.

Niềm đam mê đối với vàng cung cấp cho ta một cái nhìn sâu sắc hơn về các yếu tố khích lệ phụ nữ khác nhau trên thế giới mua trang sức bằng vàng đồng thời cung cấp cho ta tầm nhìn đối với nhu cầu trang sức.

2. Nhu cầu đầu tư

Do một tỷ lệ lớn nhu cầu đầu tư được giao dịch qua thị trường tự do, nên không dễ để có thể tính toán được. Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng nhu cầu đầu tư vàng mà chúng ta có thể ước tính được đã tăng lên đáng kể trong thời gian gần đây. Từ năm 2003, đầu tư vàng đã thể hiện sức tăng trưởng mạnh mẽ nhất với mức tăng trưởng ước tính theo giá trị lên tới 280% vào cuối năm 2007. Đầu tư vàng thu hút luồng vốn đầu tư thực ước tính khoảng 15 tỷ đô vào năm 2007.

Có một loạt lý do và biến động khiến người dân và các cơ quan, tổ chức tìm kiếm cơ hội đầu tư vào vàng. Và rõ ràng có một triển vọng về giá cả rất tích cực ẩn dấu đằng sau trông đợi rằng sức tăng trưởng của nhu cầu đối với kim loại quý này sẽ tiếp tục làm cạn kiệt nguồn cung. Điều đó chính là lý do rõ ràng để đầu tư vào vàng. Trong số những yếu tố quyết định nhu cầu đầu tư, thì một yếu xuyên suốt có thể thấy được là tất cả đều có gốc rễ từ khả năng của vàng trong vấn đề kháng cự lại sự mù mờ, bất ổn và giúp chống lại các nguy cơ tiềm ẩn.

Đầu tư vàng có thể diễn ra dưới nhiều hình thức, một số nhà đầu tư có thể chọn cách kết hợp từ hai hoặc nhiều giải pháp với nhau để tăng tính linh hoạt. Sự phân biệt giữa mua vàng chất và đầu tư lướt sóng vàng không phải lúc nào cũng rõ ràng, đặc biệt kể từ khi chúng ta có thể đầu tư vàng trên sàn mà thực tế không hề nhận vàng vật chất.

Tăng trưởng của nhu cầu đầu tư vàng đã được phản chiếu bởi sự phát triển của các hình thưc đầu tư và hiện tại có hàng loạt các hình thức đầu tư phù hợp với cả cá nhân và tổ chức.

3.Nhu cầu sử dụng cho công nghiệp

Việc sử dụng vàng cho nha khoa và các ngành công nghiệp chiếm khoảng 13% nhu cầu về vàng ( trung bình hàng năm sử dụng khoảng trên 425 tấn trong giai đoạn từ 2003 đến 2007). Tính dẫn điện và nhiệt cao của vàng và khả năng chống hao mòn chính là lý do giải thích cho việc nhu cầu sử dụng vàng trong công nghiệp tăng cao. Ứng dụng vàng trong y học cũng có lịch sử lâu đời và ngày nay các ứng dụng ý tế khác càng ngày càng phong phú đã giúp tận dụng tính tương thích của vàng trong hỗ trợ các hoạt động sinh lý như khả năng chống lại sự tấn công của vi khuẩn, hao mọi và các thuộc tính khác. Một nghiên cứu gần đây đã khám phá ra một loạt công dụng mới của vàng chẳng hạn như là chất xúc tác trong pin cũng như trong các phản ứng hoá học và khống chế ô nhiễm, công nghệ cao và chữa trị ung thư.

Rothschild
Nguồn Cung về Vàng
Sau khi xác định cầu của vàng, chúng ta cần biết nguồn cung của thị trường vàng thế giới, điều này giúp ích cho nhà đầu tư xác định nguyên nhân của hiện tượng ” Sốt vàng” do tình trạng đầu cơ hay do Lượng cầu hay do Nguồn Cung gặp rắc rối. Đồng thời, chúng ta có thể dùng Nguồn Cung để tính chi phí “Thật” sản xuất ra vàng từ đó là cơ sở cho việc so sánh giá giữa Giá Thật của nhà sản xuất và Giá Ảo trên thị trường. Thông thường Giá Ảo do đầu cơ luôn có xu hướng vận động lên xuống xung quanh ” Giá Thật” mà nhà sản suất có lợi Cộng thêm phần trăm tỷ lệ khan hiếm sai biệt giữa Cung và Cầu. Chủ yếu có các nguồn cung sau đây:

1. Sản xuất mỏ
Vàng được sản xuất từ các mỏ trên khắp các châu lục ngoại trừ châu Đại Dương, nơi mà hoạt động khai thác mỏ bị cấm. Các hoạt động khai thác này diễn ra từ quy mô rất nhỏ đến rất lớn. Theo một con số được công bố gần đây, có khoảng 400 mỏ vàng trên thế giới. Ngày nay sản lượng khai khoáng mỏ của toàn cầu tương đối ổn định, trung bình khoảng 2.225 tấn mỗi năm nếu tính trong quãng thời gian 5 năm trở lại đây. Những mỏ mới đang trong quá trình triển khai mục đích là để giúp đảm bảo sản lượng hiện tại thay vì mở rộng phạm vi khai thác. Để đưa một mỏ mới vào sản xuất ước tính mất một quãng thời gian tương đối dài- lên tới 10 năm, điều này có nghĩa rằng sản lượng khai khoáng được tương đối ít dao động và do đó khó có thể phản ứng nhanh chóng để có thể có ảnh hương lớn đến được một thay đổi nào đó trong dự đoán về giá cả.

2. Vàng vụn
Tuy nhiên, dù sản lượng của các mỏ vàng tương đối ít dao động, vàng tái chế ( hay còn gọi là vàng vụn) giúp đảm bảo nguồn cung thương mại khá dễ dàng khi cần thiết. Chính điều này góp phần ổn định giá vàng. Giá trị của vàng còn có ý nghĩa về mặt kinh tế vì nó có thể được khôi phục lại từ những hình thức sử dụng khác của nó bằng việc nung chảy, tinh chế và tái chế. Trong khoảng thời gian từ năm 2003 đến năm 2007, vàng tái chế chiếm khoảng 26 % nguồn cung hàng năm của thế giới.

3. Ngân hàng trung ương
Ngân hàng trung ương và các tổ chức đa quốc gia ( như Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế) hiện tại cất giữ khoảng 1/5 tổng lượng vàng dự trữ toàn cầu làm tài sản dự trữ (ước tính số lượng khoảng 29.000 tấn được cất trữ ở 110 tổ chức). Tính trung bình, vàng chiếm khoảng 10 % tài sản dự trữ của các chính phủ, cho dù tỷ lệ này có khác nhau giữa các nước.
Mặc dù một số các ngân hàng trung ương đã tăng lượng dự trữ vàng trong những thập niên gần đây, khu vực bán buôn mới chính là những đối tượng bán vàng thực tính từ năm 1989 trở lại đây, và đã góp phần đưa 520 tấn vàng vào nguồn cung hàng năm tính từ năm 2007. Từ năm 1999, Doanh số này được điều hành bởi hiệp hội điều phối vàng thuộc ngân hàng trung ương-CBGA (tổ chức giúp ổn định số lượng bán ra từ 15 nhà nắm giữ khối lượng vàng lớn nhất thế giới.). Doanh sô thực tế bán ra của ngân hàng trung ương ước chỉ đạt 500 tấn vào năm 2007.

Sản xuất vàng
Quy trình sản xuất vàng có thể được phân thành 6 giai đoạn chính: Tìm mỏ có quặng; xâm nhập mỏ quặng; tách quặng ra bằng khai thác và đào mỏ; vận chuyển các chất liệu tách được từ bề mặt mỏ đên nhà máy chế biến; chế biến; và tinh luyện.

Thay vì mua vàng sau đó lại bán ra thị trường, các nhà chế biến chủ yếu thu phí từ các nhà khai thác mỏ. Sau khi được tinh chế, vàng thỏi ( mức độ tinh chế khoảng 99,5 %) được bán cho các nhà kinh doanh vàng, sau đó những người này có thể bán lại cho các nhà sản xuất trang sức, điện tử hoặc đầu tư.

Thị trường kinh doanh vàng với vai trò ở trung tâm của vòng quay cung- cầu- thay vì các nhà khai thác mỏ và và nhà sản xuất trực tiếp ký hợp động với nhau, thị trường kinh doanh vàng làm cho sự vận hành của thị trường kim loại dễ dàng hơn và củng cố cơ chế tự do vận hành của thị trường.

Các nhà máy tinh luyện vàng được đặt chủ yếu gần các trung tâm khai thác lớn hoặc ở các trung tâm chế biến kim loại quý trên khắp thế giới. Tính theo công suất, trung tâm tinh luyện lớn nhất là Rand Refinery ở Germiston, Nam Phi. Tính theo sản lượng, thì trung tâm lớn nhất là Johnson Matthey ở thành phố Salt Lake, Hoa Kỳ.
This is a "lo-fi" version of our main content. To view the full version with more information, formatting and images, please click here.
Invision Power Board © 2001-2012 Invision Power Services, Inc.